Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

Tràng An - Viên ngọc sáng của du lịch Ninh Bình

Quần thể Tràng An ở Ninh Bình không chỉ là danh thắng quan trọng và nổi bật bậc nhất phía bắc Việt Nam, mà còn được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hằng năm nơi đây thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan thưởng ngoạn, điều đáng nói là trong đó lượng khách du lịch nước ngoài rất đông. Có thể thấy Tràng An là viên ngọc sáng nhất trong hàng loạt các thắng cảnh của Ninh Bình.

Tràng An là một khu du lịch sinh thái nằm trong Quần thể di sản thế giới Tràng An thuộc tỉnh Ninh Bình. Nơi đây được chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng và UNESCO công nhận là di sản thế giới kép từ năm 2014. Tràng An vốn được gọi là thành Nam của kinh đô Hoa Lư xưa, nay là cố đô Hoa Lư. Tràng An với hệ thống dãy núi đá vôi có tuổi địa chất khoảng 250 triệu năm, qua thời gian dài phong hóa bởi sự biến đổi trái đất, khí hậu, biển tiến, biển thoái đã mang trong mình hàng trăm thung lũng, hàng động, đồ đầm. Trong danh thắng này còn có nhiều hệ sinh thái rừng ngập nước, rừng trên núi đá vôi và các di tích gắn với lịch sử của kinh đô Hoa Lư xưa.


Liên khu danh thắng Tràng An - Tam Cốc - cố đô Hoa Lư hiện được quy hoạch chung vào Quần thể danh thắng Tràng An, vốn là di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên ở Việt Nam với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, lịch sử văn hóa và kiến tạo địa chất, cũng là địa danh được đầu tư để trở thành khu du lịch tầm cỡ Quốc tế.

Trung tâm bến thuyền Tràng An nằm cách thành phố Ninh Bình 7 km theo hướng tây dọc đại lộ Tràng An và cách Hà Nội 96 km theo hướng nam. Vùng lõi di sản Tràng An - Tam Cốc có diện tích hơn 6.172 ha, là vùng bảo vệ đặc biệt của danh thắng. Vùng bảo vệ đặc biệt này nằm trọn trong khu rừng đặc dụng Hoa Lư, thuộc quy hoạch bảo tồn cố đô Hoa Lư và cũng thuộc quy hoạch quần thể di sản thế giới Tràng An với diện tích 12.252 ha.

Tràng An là một vùng non nước, mây trời hoà quyện. Đáy nước trong xanh soi bóng những vách núi đá trùng điệp. Nơi đây có tới 31 hồ, đầm nước được nối thông bởi 48 hang động đã được phát hiện trong đó có những hang xuyên thủy dài 2 km như hang Địa Linh, hang Sinh Dược, hang Mây,v.v.. Mỗi hang một vẻ đặc trưng như tên gọi, các hang có nhiều nhũ đá biến đổi, nước chảy ra từ trần hang làm không khí trong hang mát lạnh. Hang Tối có lòng hang rộng hẹp biến đổi bất ngờ. Hang Sáng long lanh với những nhũ đá óng ánh kỳ lạ.


Đặc biệt nhất là Hang Nấu Rượu và hang Cơm với truyền thuyết ông khổng lồ nấu rượu ở đây, mang rượu và cơm ra núi ngồi ăn. Trong hang có mạch nước ngầm sâu hơn 10 m. Tương truyền, các bậc tiền bối đã vào đây lấy nước để nấu rượu tiến vua, khi nạo vét lòng hang các nhà khảo cổ đã phát hiện rất nhiều bình gốm, hũ, vại và các dụng cụ để nấu rượu. Vòng qua hang núi Cơm, sang hang Vồng, ở đây có cây si cổ thụ rễ chùm cả miệng hang. Từ đây sang hang Láng, hang Ao Trai, giữa hang Ao Trai, lòng hang phình ra khoảng 30m. Hang động Tràng An có những nét đặc trưng nổi bật của một khu di sản với bốn loại hang động chính: Hang ngầm cổ, hang nền Karst cổ, hang mái đá và hang hàm ếch.

Tràng An có thể tạo thành nhiều hành trình xuyên thủy khép kín mà không phải quay ngược lại. Quần thể hang động này được ví như một trận đồ bát quái. Các dãy núi, hồ nước và hang động tạo thành một thế trận liên hoàn. Mỗi hồ là một bức tranh thủy mặc khác nhau về thế núi, dáng núi và hồ nước. Mây trời, non xanh, nước biếc hòa quyện với nhau, thoắt ẩn, thoắt hiện. Ðiều diệu kỳ ở Tràng An là các hồ được nối liền với nhau bởi các gạch nối là các động xuyên thủy có độ dài, ngắn khác nhau. Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi kia. Núi giăng thành luỹ bao bọc quanh hồ nước và ở giữa nổi lên khu đất với rừng cây mọc thành đảo. Xa xa trên triền núi, dưới tán cây rừng lúp xúp là những đàn dê núi leo trèo trên các tảng đá chênh vênh.

Tràng An gắn liền với những giá trị lịch sử, văn hóa của vùng đất cố đô Hoa Lư. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất giang sơn, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Kinh đô Hoa Lư gồm 4 thành: Đông - Tây - Nam - Bắc; trong đó có Thành Nam rộng lớn, là vùng núi cao hiểm trở để phòng thủ, che chở kinh thành hiện được gọi là Tràng An. Với đặc thù địa hình như vậy, kinh đô Hoa Lư được ví như kinh đô đá với đặc điểm: núi là thành, sông là đường, hang động là cung điện.


Một phần của hang động Tràng An đã được Ninh Bình đưa vào khai thác phục vụ du lịch. Hiện nay, du khách tour Hà Nội Bái Đính Tràng An đến Tràng An thường tham gia 2 tuyến du lịch, tuyến tham quan bằng thuyền nan kéo dài 3 giờ và một tuyến du lịch leo núi.

+ Tuyến chèo thuyền: Hang động Tràng An có nét đặc trưng riêng biệt là hình thức du thuyền trên các thung nước tạo bởi nhiều vách núi đá được nối thông nhau bằng những hang nước mà không phải quay ngược lại. mất khoảng 3 đến 4 tiếng để chúng ta đi thuyền qua các hang động này.

+ Tuyến leo núi: Tuyến du lịch đường bộ có chiều dài 1,6 km, du khách sẽ đi bộ qua 3 quèn vào đền Trần. Tuyến này bắt đầu từ bến Cây Bàng, du khách sẽ đi bộ, leo núi qua ba đèo liền nhau. Đèo thứ nhất là đèo Cậy có độ cao so với mặt nước khoảng 60m. Đèo thứ hai là đèo Vài. Và đèo thứ ba là đèo đền Trần. Hiện nay, đường leo núi này đã được xây các bậc đá rộng. Trên đường đến đền Trần đã dựng 7 chiếc lầu bằng gỗ lim hình bát giác làm nơi nghỉ chân cho du khách khi leo núi.


Ðiều diệu kỳ ở Tràng An là các hồ được nối liền với nhau bởi các gạch nối là các động xuyên thủy có độ dài, ngắn khác nhau. Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi kia. Núi giăng thành luỹ bao bọc quanh hồ nước và ở giữa nổi lên khu đất với rừng cây mọc thành đảo. Xa xa trên triền núi, dưới tán cây rừng lúp xúp là những đàn dê núi leo trèo trên các tảng đá chênh vênh.

Tới Tràng An, bạn sẽ được ngồi trên con thuyền lướt nhẹ qua các dãy núi, ngắm nhìn làn nước trong vắt tới đấy, khám phá những hang động kỳ bí, được nghe người lái thuyền thuyết minh về ý nghĩa tên gọi của hang hay những truyền thuyết gắn liền với nó.

Nhiều du khách du lịch Ninh Bình 1 ngày ví Tràng An là "Hạ Long trên cạn", nhưng không, Tràng An là Tràng An, nơi có làn nước trong xanh biếc, nơi những hang động muôn hình muôn vẻ, nơi cảnh đẹp gắn liền với lịch sử kinh đô nước Đại Cồ Việt xưa kia, nơi không có những du thuyền buồm sang trọng như Hạ Long, chỉ có chiếc xuồng lá mộc mạc cùng người lái thuyền chất chất đưa bạn rong ruổi hành trình thưởng ngoạn sơn thủy.

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp thanh thoát giản dị của đền Bà Đế

Không chỉ người Hải Phòng, rất nhiều du khách cả nước biết đến đền Bà Đế, nằm sát chân sóng biển ở quận Đồ Sơn - ngôi đền gắn với truyền thuyết về nỗi oan trái của một người con gái, đó là bà Đào Thị Hương ở vùng Tây Nam Đồ Sơn, đã được dân làng lập miếu thờ ở dưới chân núi Độc.

Ðền tựa chân vào núi, phía trước mặt là biển khơi bao la, sơn thủy thật hữu tình tạo nên một kỳ quan thiên nhiên độc đáo. Đền Bà Đế là một trong những đền nổi tiếng về danh thắng và linh thiêng.

Ðền có cấu trúc giản dị nhưng thanh thoát và trang nhã, nép mình vào lưng núi, trước mặt là biển khơi bao la, tạo nên một kỳ quan thiên nhiên độc đáo không thua gì “Nam thiên đệ nhất động - Chùa Hương”.


Bà Đế có tên thật là Đào Thị Hương. Tương truyền vào năm 1718, ở phía Đông Nam vùng Ngọc Ðồ Sơn có đôi vợ chồng họ Ðào, đã hai mươi năm không có con. Hai vợ chồng tu thân, tích đức, cầu xin trời phật cho một mụn con.

Trời phật động lòng, chứng giám, rồi báo mộng cho người vợ được mang thai. Tròn ngày, tròn tháng, đứa bé ra đời và được đặt tên là Ðào Thị Hương. Từ khi sinh ra, người đứa trẻ đã toả hương thơm ngát, phát ánh hào quang và đi đến đâu cũng có làn mây che đến đó. Càng lớn lên đứa trẻ (Bà Ðế) càng xinh đẹp, lộng lẫy. Bà Ðế rất khéo tay, siêng năng mọi việc. Hàng ngày bà đi chăn trâu, cắt cỏ, tay làm, miệng hát, tiếng hát ngân vang cả núi rừng. Người ta nói rằng, tiếng hát của bà làm chim ngừng hót, sóng ngừng vỗ, đất trời lặng đi để lắng nghe. Sử sách chép, vì Trịnh Giang bỏ bê chính sự, không đoái hoài tới công việc, từ năm 1736, đã trao quyền nhiếp chính cho Trịnh Doanh, lúc đó ông mới 17 tuổi. Để nắm rõ chính sự, cũng như thấu hiểu cuộc sống của người dân, ngay trong năm, Chúa Trịnh Giang đi kinh lý Ðồ Sơn. Vào năm 1736, Chúa Trịnh Giang về kinh lý Ðồ Sơn. Chúa cùng đoàn người dạo thắng cảnh bằng thuyền rồng trên núi Ðộc. Xúc động trước tiếng hát mượt mà, Chúa truyền cho quân lính đi tìm người hát. Khi gặp được bà với vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, Chúa yêu mến và quyến luyến không rời. Khi về Kinh đô, Chúa có hẹn ngày về đón bà. Bà mang thai, trong lòng rất lo sợ, ngày đêm trông ngóng thuyền hoa của Chúa. Hàng Tổng biết chuyện đòi phạt tiền. Nhà nghèo không có tiền nộp phạt, hàng tổng đem bà ra khu núi Ðộc rồi dìm bà xuống biển. Trước khi chết, bà ngửa mặt lên trời khóc than rằng: “Phận gái thân cô, gặp Chúa yêu thương tôi đâu dám chống, nhìn mẹ cha, hàng xóm tôi đâu dám quên. Xin trời phật chứng giám cho lòng con. Khi con bị dìm xuống nước, nếu có oan ức, trời phật cho con nổi lên ba lần”. Quả nhiên bà nổi lên ba lần, mọi người ai nấy đều kinh sợ. Sau một tháng, thuyền hoa của Chúa về rước bà về Kinh.

Biết chuyện oan khuất, Chúa Trịnh Giang cho xây đền, lập đàn giải oan cho bà. Sự thiêng liêng của Đền làm cho bọn cướp biển không dám lần mò tới, bọn hào lý cũng không dám trắng trợn nhũng nhiễu dân lành. Vào thời Vua Tự Đức Triều Nguyễn, trong một lần thăm đền nàng Hương, Nhà Vua đã ban sắc phong là “Đông nhạc Đế bà - Trịnh Chúa phu nhân” và từ đó, ngôi đền được gọi là đền Bà Đế.


Từ bấy đến nay, khách thập phương tấp nập trảy hội đền Bà Ðế. Người ta đến để xin tài, xin lộc và đặc biệt cùng bà giải mọi nỗi oan khuất mà mình gặp phải.

Trước đây đền Bà Đế khá nhỏ nằm trên bãi biển dưới chân núi Độc. Ngôi đền ngày một xuống cấp vì thời gian. Năm 1988, bà Lưu Quế Hoa ở phường Ngọc Hải đã cùng con cháu phát tâm công đức và quyên góp xây dựng lại ngôi đền to hơn, chắc chắn hơn. Có lẽ, cũng do Đế Bà linh thiêng nên từ khi ngôi đền được xây dựng lại, khách thập phương đến thăm quan và thắp hương cầu an ngày càng đông. Thủ hương Lưu Quế Hoa đã góp nhặt những đồng tiền công đức của du khách để rồi mỗi năm một ít, bà cùng con cháu lấn biển xây thành chắn sóng. Đến hôm nay, sau hơn 20 năm góp nhặt dựng xây, đền Bà Đế đã trở thành một quần thể chắc chắn và được bọc phía trước là bức thành đá, bê tông sừng sững thách thức cùng sóng biển, phía sau là dãy núi Độc chở che, tạo nên một phong cảnh sơn thủy hữu tình tuyệt đẹp bên bờ biển Đông. Hàng năm, ngày 26 tháng Giêng là ngày khai xuân và cúng cơm, ngày 24, 25, 26 tháng Hai là ngày lễ tạ Đức Bà. Những ngày này, du khách thập phương về rất đông, nhưng nơi đây không hề có bói toán, đồng bóng và cờ bạc, tắc nghẽn giao thông như một số điểm du lịch tâm linh khác, tạo nên không khí trang nghiêm, trong lành và văn hóa.

 Mùa hè, về du lịch biển Đồ Sơn, đền Bà Đế cũng là một điểm du lịch hấp dẫn. Mỗi buổi chiều hè, khi mặt trời đã khuất sau rặng núi Độc, du khách tour lễ chùa đầu năm đứng dưới gác chuông của đền nhìn ra biển lăn tăn sóng sánh ánh hoàng hôn thấy cuộc sống thanh bình và đáng yêu đến lạ. Và từ trong sâu thẳm của lòng biển còn vang lên tiếng hát thiết tha của người con gái đẹp của đất Đồ Sơn- Đào Thị Hương năm nào, giữa trùng khơi, sóng biển vẫn thì thầm kể câu chuyện về “Đông nhạc Đế bà”...

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

Hội An đón đoàn khách đầu tiên tham quan Phố Cổ trong năm 2019

Sáng ngày 1/1, thành phố Hội An, Quảng Nam đã tổ chức đón đoàn khách đầu tiên tham quan phố cổ trong năm 2019. Nghi lễ trà đạo Nhật Bản tại đình Cẩm Phô đã được lãnh đạo Hội An và Quảng Nam mời các vị khách đầu tiên đến với Hội An nhân dịp năm mới này.

Đoàn khách “xông đất” phố cổ Hội An đầu năm 2019 gồm 15 người đến từ các nước Châu Âu. Ngay sau khi đặt chân đến đình Cẩm Phô, đoàn khách tour Đà Nẵng Hội An 4 ngày 3 đêm được lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, Sở VH-TT&DL, thành phố Hội An chào đón, tặng hoa và quà lưu niệm chúc mừng.


Năm 2018, ngành du lịch tỉnh Quảng Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Tổng lượt khách tham quan, lưu trú đạt 6,5 triệu lượt, tăng hơn 21 % so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách quốc tế đạt 3,8 triệu lượt, tăng hơn 36%. Doanh thu từ tham quan, lưu trú du lịch năm 2018 đạt 4.700 tỷ đồng, tăng hơn 21% so với năm 2017. Thu nhập xã hội từ tham quan, lưu trú du lịch ước đạt 11.100 tỷ đồng.


Tỉnh Quảng Nam hiện có 10 thị trường khách quốc tế tham quan, lưu trú gồm Hàn Quốc, Úc, Anh, Pháp, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha. Trong đó, khách Hàn Quốc tour Da Nang Hoi An Hue 5 ngay 4 dem đến tham quan, lưu trú chiếm phần lớn.

Ông Trần Văn Tân - Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Nam cho biết, định hướng 2019, tỉnh Quảng Nam sẽ thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với những giá trị văn hóa đặc trưng ở khu vực miền núi. Đặc biệt, tỉnh Quảng Nam chú trọng mở rộng không gian phát triển du lịch về phía Tây và phía Nam của tỉnh. Trong đó, vùng Đông - Nam của tỉnh sẽ chú trọng những dự án du lịch giải trí cao cấp.


Năm 2019 sẽ đưa vào khai thác dự án du lịch Nam Hội An - một trong những dự án du lịch trọng điểm vùng Đông - Nam sẽ phát triển. Lãnh đạo tỉnh Quảng Nam tin tưởng trong năm 2019, cùng với những kết quả đạt được thì ngành du lịch của địa phương sẽ phát triển mạnh hơn nữa.

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018

Giá trị độc đáo đa dạng của chùa Tam Thanh

Nằm trong lòng thành phố Lạng Sơn, Động Tam Thanh thuộc quần thể di tích danh thắng Nhị-Tam Thanh – Núi Tô Thị – Thành Nhà Mạc, cách ngã 6 Pò Soài khoảng 600m, đi theo đường Tam Thanh.

Đây là một di tích lịch sử, văn hoá và danh thắng nổi tiếng của xứ Lạng. Trong động có chùa gọi là chùa Tam Thanh (hay còn gọi là chùa Thanh Thiền).


Chùa Tam Thanh xưa kia là nơi thờ tự của Đạo Giáo, thờ Tam Thanh (Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh) nên có tên gọi là chùa Tam Thanh. Sau này do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, Đạo Giáo mờ nhạt trong tâm thức dân chúng địa phương, người ta đưa các yếu tố thờ tự của Phật giáo, thờ Thánh vào trong di tích.

Hiện nay, nơi đây trở thành nơi thờ tự của nhiều loại hình tín ngưỡng-tôn giáo với các cung thờ như: Cung Tam Bảo, cung Thánh Mẫu, cung Sơn Trang… với một hệ thống tượng thờ khá phong phú. Giá trị nhất về mặt niên đại và mỹ thuật là bức phù điêu Adiđà có niên đại vào thế kỷ XVII được tạc vào vách đá theo thế đứng trong hình lá bồ đề, nằm phía trên cung Tam Bảo.

Qua các tài liệu thư tịch cổ, các nhà nghiên cứu cho rằng chùa Tam Thanh có từ thời Lê. Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, hiện nay trong chùa Tam Thanh vẫn lưu giữ được hệ thống văn bia khá phong phú, có giá trị về mặt sử liệu và văn học nghệ thuật do các văn nhân, thi sĩ qua các thời kỳ lịch sử lưu lại. Tấm bia có niên đại cổ nhất ở Chùa hiện nay là bia “Trùng tu Thanh Thiền động”, được chế tác vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677) do Binh sứ Bắc quân đô phủ, Đô đốc Thiêm sự, Vũ quận công Vi Đức Thắng tạo dựng. Đặc biệt, tại đây còn lưu giữ tấm bia bằng chữ Nôm duy nhất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn do Tuần phủ Thái Bình là Đào Trọng Vận viết năm 1924.


Đi sâu vào trong Động có hồ Âm Ty, nước trong mát, không bao giờ vơi cạn, nước chảy suốt ngày đêm. Trên các trần hang có nhiều nhũ đá thiên tạo từ ngàn xưa với những hình thù sinh động kỳ bí như: cây Ngô Đồng, Tiên Ông, Sư Tử, Voi… Du khách tour du xuân 2019 đi tiếp vào bên trong đến một sân khấu nhỏ, có hai cửa thông thiên rọi ánh sáng vào động làm cho những nhũ đá đẹp lung linh lạ thường. Từ Động Tam Thanh, có đường dẫn lên Lầu Vọng Thị để du khách có thể ngắm nhìn tượng đá nàng Tô Thị bồng con chờ chồng, sau đó tham quan ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Tày ở Lạng Sơn.

Bên cạnh giá trị đặc sắc về tín ngưỡng-tôn giáo, văn học nghệ thuật, nguồn sử liệu… đến với di tích Động Tam Thanh – Chùa Tam Thanh, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên và hòa mình vào không khí lễ hội Chùa Tam Thanh được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng hàng năm với nhiều nghi lễ, tập tục truyền thống đặc sắc của nhân dân xứ Lạng./.

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Những trải nghiệm thú vị của chợ nổi Cái Răng

Chợ Nổi Cái Răng từ lâu đã là điểm đến du lịch nổi tiếng của Cần Thơ. Đây là một khu chợ độc đáo có một không hai trên thế giới và cũng là niềm tự hào của người dân Miền Tây – Việt Nam. Bạn có muốn một lần ngồi trên những chiếc thuyền lênh đênh trên mặt nước và lựa chọn mua những món đồ mình yêu thích chưa? Dừng chân ghé lại đây để cùng có những trải nghiệm thú vị nào!

Chợ nổi miền sông nước


Bạn đã từng gặp những cảnh đông đúc, chen lấn, ùn tắc tại những ngôi chợ trên cạn? Thật là bức bối đúng không nào. Nhưng Chợ nổi Cái Răng cũng đông đúc, tập trung rất nhiều thuyền, ghe xuôi ngược lênh đênh nhưng không khí nơi đây vô cùng nhộn nhịp. Những món hàng du khách du lịch miền Tây sông nước cần mua không bao giờ đứng yên một vị trí để bạn lựa chọn. Cũng như bạn phải liên tục di chuyển trên mặt nước thì mới kịp lựa chọn những món đồ yêu thích. Chợ Nổi Cái Răng thuộc quận Cái Răng, Thành Phố Cần Thơ, cách bến Ninh Kiều 30 phút bằng ca nô. Nét độc đáo của chợ nổi là mạng lưới kênh rạch chằng chịt, mặt nước là đường phố, thuyền, ghe là những kiot chợ.

Họp chợ

Khi những tiếng sóng vỗ liên hồi và đập mạnh vào mạng thuyền, ghe thì lúc đó chợ đông đúc nhất. Muốn đến được chợ nổi Cái Răng chúng ta phải dậy từ khá sớm vì chợ bắt đầu họp từ 5 giờ sáng và khoảng 8-9 giờ thì đã vãn chợ, ở chợ bày bán đủ mặt hàng không khác gì những ngôi chợ trên cạn hết. Điều đặc biệt thu hút khách du lịch ngoài sự độc đáo đi chợ bằng thuyền thì không khí nơi đây vô cùng náo nhiệt hòa vào tiếng nói cười vui vẻ của cả người mua và người bán.

Hòa mình vào nhịp sống chợ nổi


Nếu có cơ hội đi chợ Nổi Cái Răng sáng sớm, hãy tận dụng khoảnh khắc lênh đênh trên nước và ngắm nhìn khoảnh khắc ló dạng của mặt trời. Những tia nắng đỏ rực chiếu lên mặt nước vô cùng lung linh, huyền ảo. Đó cũng là một sức hút thúc đẩy du khách dậy sớm đi chợ đấy. Vào thời điểm tinh mơ này, bạn sẽ cảm nhận rõ hơn hết nhịp sống và văn hóa của người dân gắn bó với sông nước ở Cần Thơ.

Và hãy khiến buổi sáng của bạn trọn vẹn khi chọn cho mình một lý café thơm lừng và một cách thưởng thức khác lạ là ngồi ngắm sông nước nhâm nhi tách café ấm nóng đậm đà chợ Nổi Cái Răng. Đó là một buổi sáng khó quên trong cuộc đời của du khách tour du lịch miền Tây giá rẻ đấy!

Một trong những điểm cuốn hút của khách du lịch là việc vừa thăm chợ nổi vừa được thưởng thức các sản vật vùng sông nước ngay trên chính các ghe hàng. Bạn biết không người dân nơi đây tình cảm nồng ấm, trìu mến khiến cho ai đến cũng mến cũng yêu, đến một lần và muốn quay lại nữa.

Sầm uất cảnh mua bán


Tại chợ Nổi Cái Răng, trên những chiếc ghe, thuyền luôn đầy ắp những hàng hóa. Rất nhiều loại trái cây đặc sản miền Tây cho bạn lựa chọn, những đặc sản chỉ có ở chợ Nổi mới có. Ngoài ra bạn còn được thưởng thức những món ăn vô cùng hấp dẫn để bạn lựa chọn thưởng thức ngay trên chiếc ghe của mình. Mọi âm thanh của phiên chợ ngày một lúc lớn hơn khi sự náo nhiệt của rất nhiều ghe thuyền đổ xô hòa vào tiếng khua mái chèo, những điệu hát, những lời mua bán. Tất cả tạo nên một sự xô bồ và sầm uất không kém gì những khu chợ trên cạn.

Lại cũng có những ghe bầu chở các mặt hàng khác cung cấp cho bà con miệt vườn như: xăng dầu, muối, thuốc tây, bánh kẹo, vật dụng hàng ngày.

Say đắm với cuộc sống và con người miền sông nước

Chợ nổi Cái Răng luôn luôn giữ một nhịp sống hối hả rất riêng, rất độc đáo của mình. Những nét đẹp văn hóa dân dã, mộc mạc nhất luôn được người dân mang theo trên những chiếc ghe của mình. Có một điều đáng chú ý là dù cuộc sống có thế nào thì nụ cười luôn nở trên môi họ và luôn đầy ắp những câu hò trên sông. Những đôi vai gầy sương gió, những bàn tay gầy guộc ngày ngày vẫn lướt nhẹ mái chèo mang đến những món quà Miền Tây, mang đến cho biết bao du khách những đặc sản bình dị của mình.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Hương vị đậm đà khó quên của muom-muom-rang-muong-lo

Muồm muỗm rang Mường Lò là một trong những đặc sản nổi tiếng của Yên Bái và nếu có một lần đặt chân đến vùng đất này, đừng quên nếm thử.

Nhắc đến vùng đất Yên Bái, không ít người nghĩ ngay đến những địa danh nổi tiếng như Mù Cang Chải rồi hồ Thác Bà. Tuy nhiên, Yên Bái cũng rất nổi tiếng với nhiều món ngon trở thành đặc sản hấp dẫn du khách du lịch Yên Bái xa gần. Và một trong những đặc sản đó chính là món Muồm muỗm rang Mường Lò.


Muỗm muỗm rang Mường Lò được chế biến từ những con muồm muỗm. Muồm muỗm thoạt nhìn trông rất giống với con cào cào tuy nhiên nếu để ý kỹ hơn một chút sẽ thấy, muồm muỗm thân mình thon và phần cánh cũng nhỏ gọn hơn. Theo người dân ở nơi đây thì muồm muỗm thường ăn các loại như trứng sâu, muỗi…ở trong các ruộng lúa cho nên cũng được xem là một loại “thiên địch”. Và vào mùa gặt cũng chính là mùa của muồm muỗm.

Nếu bạn lần đầu đến với Yên Bái mà lại trúng vào gặt thì chắc hẳn sẽ rất ngạc nhiên với cảnh tượng bắt muồm muỗm của bà con nơi đây. Ở trên con đường trải dài, dưới màu vàng của những ngọn đèn cao áp là những đoàn người rườm rượp đang bắt muồm muỗm.

Từ người già cho đến những người trẻ, từ trẻ con cho đến người lớn, từ nam cho đến nữ đều chia thành từng nhóm nhỏ, cầm dụng cụ trên tay cứ thế đi bộ và bắt những con muồm muỗm đang bay lượn ở gần đó.

Vào mùa gặt muồm muỗm xuất hiện rất nhiều, và chúng bay thành thành từng đàn, từng đàn rào rào dưới những ánh đèn cao cáp, đèn của xe cộ qua lại. Và con nào con nấy trông cũng rất to, bằng với ngón tay áp út. Một khi chúng bay mỏi, chúng sẽ đậu lên cả những bước tường, trên những cành cây hoặc có khi là sàn xuống ở giữa mặt đường. Và đây chính là cơ hội cho những người đang đi để bắt chúng.

vnf03-5418-01.jpg (600×400)

Dụng cụ để bắt muồm muồm chỉ là dụng cụ đơn giản như chai nhựa cầm trong tay, những chiếc gậy dài và một chiếc đèn pin…Cầm những dụng cụ ở trên tay, đi đi lại lại rồi vồ vồ và chụp chụp…ấy thế mà cũng có rất nhiều người bắt được khá nhiều những chú muồm muỗm.

Việc bắt muồm muỗm trông thì đơn giản nhưng để bắt được nhiều thì lại là một thách thức đối với những người đang đi bắt chúng. Bởi với những chú muồm muỗm đang bay ở tầm thấp hoặc là đậu trên tường, dưới đường ra thì với những chú muồm muỗm ở trên cao lại phải cần đến những dụng cụ tự chế đặc biệt. Đó chính là một chiếc sào dài và một phần của sào sẽ được gắn vào đó một cái phễu, phễu này được làm bằng chai nhựa và đã được cắt bỏ đi phần đáy.

Và khi đã bắt được muồm muỗm rồi thì cũng cần phải biết cách để đưa muồm muỗm ra khỏi phễu, nếu không sẽ bị nó cắm. Đơn giản đó là cầm vào phần gáy của muồm muỗm, làm như thế thì nó không thể quay đầu và cắm vào tay được nữa.

Đặc biệt trời càng về khuya thì muồm muỗm bay càng nhiều, tuy nhiên lúc này người đi bắt cũng thưa dần vì họ đã bắt đủ để làm món muồm muỗm rang Mường Lò đủ dùng cho gia đình mình.

Muồm muỗm rang Mường Lò là một đặc sản của vùng đất Yên Bái và bất kì du khách đền Đông Cuông Yên Bái dù thưởng thức một lần thôi cũng không bao giờ có thể quên đi được cái hương vị đậm đà mà nó mang lại.


Tuy nhiên, để có được muồm muỗm rang Mường Lò thưởng thức cần phải trải qua khâu chế biến. Cần phải bỏ đầu, bỏ cánh, bỏ chân và rút ruột của muồm muỗm. Rất nhiều người nhận xét, muồm muỗm sau khi chế biến trông chẳng khác gì kén của tằm dâu. Sau đó sẽ đem muồm muỗm đi rửa sạch và cho vào trong trong chảo.

Đầu tiên sẽ cho muồm muỗm vào om cùng với nước măng chua hoặc là giấm gạo ở trên ngọn lửa nhỏ. Cứ đun như thế cho đến khi cạn nước, rồi cho mỡ hoặc là dầu ăn vào rồi đảo cho thật đều ở trên ngọn lửa lớn. Rang như thế cho đến khi nào nghe được tiếng nổ lách tách thì có nghĩa là muồm muỗm đã chín. Lúc này cho gia vị và một chút ớt tươi và đảo thật nhanh tay. Sau đó cho thêm lá chanh vào đảo thêm một lúc rồi bắc chảo ra. Muồm muỗm sau khi được rang chín có màu vàng sậm và đặc biệt là rất thơm.

Muồm muỗm rang Mường Lò là một món ăn dân dã, quen thuộc trong bữa cơm của người dân nơi đây và nó cũng trở thành một món đặc sản nổi tiếng mà khi đặt chân đến vùng đất này, du khách đừng quên nếm thử.

Vị trí linh thiêng của đền ông Hoàng Bảy trong lòng người dân

Đền Bảo Hà (xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, Lào Cai) nằm trong "Quần thể di tích Thần vệ quốc Hoàng Bảy" (cùng Đền Cô Tân An) từ lâu đã trở thành địa chỉ du lịch tâm linh của hàng vạn lượt du khách trong và ngoài tỉnh mỗi năm trong hành trình "Du lịch về cội nguồn", nhất là dịp đầu Xuân mới.

Đền Bảo Hà là khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia, được Nhà nước xếp hạng vào tháng 11/1997. Nằm cách thành phố Lào Cai khoảng 60 km về hướng Nam, từ ga Bảo Yên đi xuống khoảng 1 km, trong không gian hùng vĩ, thơ mộng bên dòng sông Hồng cuộn chảy, dưới chân núi Cấm, đền Bảo Hà sẽ dần hiện ra trước mắt du khách tour đền ông Hoàng Bảy trong phảng phất khói nhang huyền ảo. 


Những năm gần đây, đền là điểm đến thu hút du khách thập phương đông nhất của huyện Bảo Yên. Ông Phạm Văn Chiến - Trưởng ban quản lý đền cho biết: từ sau ngày mồng 1 Tết Nhâm Thìn đến nay, mỗi ngày đền đón gần 6.000 khách đến lễ, tăng mạnh so với cùng kỳ. Từ nay đến rằm tháng Giêng là thời gian cao điểm thu hút khách đến thăm và lễ đền. 

Đền Bảo Hà thờ thần vệ quốc Hoàng Bảy, một anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ bờ cõi biên cương. Theo sử sách ghi chép lại, đền được xây dựng vào cuối đời Lê (niên hiệu Cảnh Hưng), thờ danh tướng Hoàng Bảy họ Nguyễn, có công đánh giặc ở cửa ải Lào Cai, bảo vệ Tổ quốc. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Bảo Hà có một vị trí quan trọng trong phòng thủ biên giới, là cửa trạm của phòng tuyến sông Hồng phía Tây Bắc. 

Đời nhà Trần đã đặt hai cửa trấn ải là cửa quan Bảo Thắng và Bảo Hà, trong đó Bảo Hà là hậu cứ của Bảo Thắng. Tại đây có đài hỏa hiệu, trạm liên lạc thông tin cho các châu huyện phía dưới. Giữa niên hiệu Cảnh Hưng, Bảo Hà là trung tâm Châu Văn Bàn. Trong thời kỳ này, bọn giặc phương Bắc thường hay quấy nhiễu, xã Khấu Bàn, châu Văn Bàn đã phải xây dựng các thành lũy chống giặc. Đến cuối đời nhà Lê (1740-1786), các châu Thủy Vĩ, Văn Bàn và nhiều nơi khác thuộc phủ Quy Hóa luôn bị giặc cướp phương Bắc tràn sang quấy nhiễu. 


Trước tình hình giặc giã biên cương quấy đảo, triều đình cử viên tướng thứ bảy họ Nguyễn lên trấn thủ Quy Hóa. Danh tướng họ Nguyễn đưa đội quân tiến dọc sông Thao đánh đuổi bọn giặc cỏ, giải phóng Khảu Bàn và xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Tại đây danh tướng đã tổ chức luyện tập binh sĩ, thống lĩnh quân thủy và quân bộ tiến đánh giặc ở Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hóa (Yên Bái, Lào Cai ngày nay). Sau đó, quân giặc phương Bắc sang xâm lược bờ cõi, danh tướng Hoàng Bảy lại dẫn quân lên tham chiến. Song, do trận chiến không cân sức, ông đã anh dũng hy sinh. Xác ông bị giặc vứt xuống sông Hồng và trôi đến Bảo Hà. Nhân dân trong vùng do ông Lư Văn Cù đứng ra tổ chức đã vớt xác ông lên chôn cất và lập miếu thờ. 

Để ghi nhớ công lao của ông, các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị đã tặng ông danh hiệu “Trấn an hiển liệt” và đền thờ ông cũng được các vua triều Nguyễn cấp sắc phong là “Thần Vệ Quốc”. Còn đồng bào các dân tộc Kinh, Tày, Dao… thì tôn thờ ông là vị nhân thần. Ông đi vào cõi tâm linh các dân tộc và hiện thân trong các lễ hội xuống đồng vào ngày Thìn tháng Giêng.


Kiến trúc nguyên thủy của đền được giữ lại gần như toàn bộ cho đến ngày nay, thể hiện sự uy nghi và trang nghiêm nhưng không quá cầu kỳ, gồm: cổng tam quan, sân đền, nhà khách, phủ chúa Sơn Trang, Tòa đại bái, Cung cấm, Cung nhị, Cung công đồng với diện tích, bài trí các pho tượng khác nhau. Trong các cung thờ chính của đền có các pho tượng: Đức Thánh Trần, Đức Vua Cha, Quan Tuần Trang, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Đông quan Bơ phủ, Mẫu Nhị, Mẫu Thượng Ngà, Mẫu Thủy Tiên, Thiên Phúc Thiên Nhãn.

Đền Bảo Hà có rất nhiều ngày lễ hội, trong đó những ngày lễ chính là: Lễ thượng nguyên (rằm tháng Giêng), lễ tiệc quan tuần tranh (25/5 âm lịch), lễ hội ngày giỗ ông Hoàng Bảy (17/7 âm lịch), lễ Tết muộn (Tết tất niên). Lễ hội Đền Bảo Hà và lễ hội Đền Thượng là hai lễ hội đông vui nhất tỉnh Lào Cai. Đó chính là thời điểm hội tụ sức mạnh cộng đồng và gửi gắm khát vọng về no ấm, hòa bình của người dân Lào Cai và du khách tour lễ hội 2019 trong suốt chiều dài lịch sử.