Hiển thị các bài đăng có nhãn du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2019

Những ấn tượng đẹp của Đền Đô trong lòng du khách

Đền Đô (hay còn gọi là đền Lý Bát Đế) là Di tích lịch sử-văn hóa Quốc gia đặc biệt nằm trên địa bàn phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đền là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng thờ 8 vị vua triều Lý. Trong những ngày đầu năm mới, rất nhiều du khách tour du xuân 2019, học sinh đã đến đây tham quan, dâng hương tưởng nhớ, tri ân công đức các vị vua nhà Lý. Đến đền Đô, điều để lại ấn tượng cho du khách là không gian thoáng đãng, linh thiêng, cổ kính. Tại đây không có hiện tượng khách hành hương chen lấn lễ bái.

Tạo thuận lợi cho du khách đến tham quan di tích


Khác với một số địa điểm du lịch tổ chức thu vé tham quan, Ban quản lý di tích đền Đô không thu vé từng người mà tạo mọi điều kiện thuận lợi cho du khách đến chiêm bái, lễ đền. Du khách về đền còn được sử dụng nước uống miễn phí. Khu vệ sinh sạch sẽ cũng không thu phí vệ sinh. Nhiều trường học tổ chức chương trình giáo dục truyền thống lịch sử cho các em học sinh được ban quản lý đền cử nhân viên thuyết minh, làm lễ dâng hương, dẫn đi tham quan di tích và sử dụng khuôn viên của đền để tổ chức các hoạt động ngoại khóa.

Cô Nguyễn Thị Mỵ (phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh) tâm sự: “Đến thăm đền Đô nhận được sự đón tiếp chu đáo của nhà đền, tôi cùng các thành viên trong đoàn cảm thấy rất phấn khởi. Qua tham quan tìm hiểu thực tế tại đền, chúng tôi có dịp hiểu thêm về lịch sử đất nước, tự hào về truyền thống quê hương”.


Ông Nguyễn Đình Vĩ, Trưởng ban quản lý di tích đền Đô Bắc Ninh cho biết: “Được sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, ban quản lý di tích luôn quan tâm đến công tác đón tiếp và phục vụ du khách thập phương đến thăm đền. Ban quản lý đã chủ trương không thu vé tham quan từng người, không làm dịch vụ, tạo tâm lý thoải mái, phấn khởi cho du khách tham quan đền, để nơi đây thực sự là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước, lịch sử dân tộc”.

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2019

Nhớ cái hồn xưa của thành phố ngàn hoa

Cứ ngỡ thành phố ngàn hoa chỉ quá tải du khách trước và trong dịp Tết Nguyên đán, ai ngờ đã gần hết tháng giêng mà chúng tôi vẫn chen chúc giữa biển người. Bất cứ ai lên xứ sở ngàn hoa, nên thơ, nên nhạc vào những dịp lễ, Tết đều rơi vào cảm giác hụt hẫng, tiếc nhớ một Đà Lạt xưa. Nhớ cái khí hậu mát lạnh hòa quyện trong cỏ cây hoa lá muôn sắc màu; nhớ cái tĩnh mịch liêu trai như ru hồn người lữ khách…

Nhớ hồn Đà Lạt

Thay vào không gian mơ mộng đó, Đà Lạt những ngày này là một biển người chen chúc, với những từ ngữ nhận xét bộc phát đồng nghĩa của du khách du lịch Đà Lạt như “kinh khủng”, “dễ sợ”, “khiếp quá”,… kèm những cụm từ ngắn gọn nhắc nhở nhau như “coi chừng móc túi”, “coi chừng đi lạc”, “hãy cầm tay nhau”,..


Ngay buổi tối đầu tiên đến Đà Lạt, chúng tôi đã may mắn gặp một người Đà Lạt gốc (chị đã ngoài 60 tuổi, được sinh ra lớn lên ở Đà Lạt), chị Nguyễn Thị Y chia sẻ: “Người Đà Lạt cũ rất chi là lịch sự, mua bán rất nhã nhặn. Giờ ngay cả như mình, cũng ngại đi chợ truyền thống. Người Đà Lạt căn bản một chút hầu như đi siêu thị, vì hàng hóa ngoài chợ truyền thống thì thật giả lẫn lộn, không đảm bảo chất lượng, người mua bán thì hung dữ, thách đố, làm mình cũng không trả giá được,… Đó là điều mà tôi cũng như những người Đà Lạt xưa đều vô cùng tiếc nuối…”.

Thành phố Đà Lạt những ngày quá tải, dù giá phòng lưu trú đã được niêm yết công khai, nhưng từ 300 ngàn đồng/phòng/đêm, vẫn tăng lên 1,5 triệu đồng/phòng/đêm; phòng từ 500 ngàn đồng/phòng/đêm vẫn tăng lên 2,5 triệu đồng. Thế nhưng, đến nay vẫn không thấy du khách nào lên tiếng phàn nàn về việc ấy, vì đó là “do du khách tự thuyết phục và chấp nhận, chứ không phải khách sạn đòi lên”. Bởi lẽ, những người kinh doanh cơ hội tại thành phố mộng mơ này cũng thừa biết “cái thế” của mình, du khách khó có thể ngủ trên xe, ngoài trời trong đêm lạnh…

Thực tế, sự quá tải buồng phòng không phải là vấn đề lớn, bởi những năm gần đây, người dân Đà Lạt đã biết lợi dụng thế mạnh du lịch, nên gần như nhà nhà làm du lịch. Số lượng phòng lưu trú tăng lên gấp rưỡi lần do nhà ở của nhiều người dân đã biến thành homstay,…

Cần xem lại chất lượng dịch vụ

Tôi đã có N lần đến với Đà Lạt. Song, cảm nhận về dịch vụ du lịch tại thành phố du lịch nổi tiếng này: lần sau luôn tệ hơn lần trước. Phải chăng, khi nhà nhà đổ xô làm du lịch (homstay), các cơ quan quản lý nhà nước mất kiểm soát với loại hình lưu trú này ?!...

Một biệt thự homsaty được cấp phép, treo bảng kinh doanh, nằm ngay trung tâm thành phố (cách Hồ Xuân Hương gần 300m), nhưng khi chúng tôi vào ở, cứ ngỡ mình đang trở về thời khốn khó của thập niên 80, mùi ẩm mốc chưa được khử trùng xộc vào mũi khi du khách vừa mở cửa… Những thiết bị cũ kỹ và dơ bẩn vẫn không được thay thế, dù sự thay thế đó không mất quá 500 ngàn đồng.


Chị H.T.M - du khách đến từ Nha Trang bộc bạch: “Tôi được người địa phương giới thiệu 1 homstay ngay trung tâm (gần trạm bán vé Phương Trang). Thật bất ngờ, khi đơn vị quản lý cấp phép cho kinh doanh theo hình thức homstay. Tôi nghĩ, nó là phòng trọ thì đúng hơn, bởi đơn giản nó chỉ là 1 cái phòng để ngủ, ngoài ra không có bất cứ sinh hoạt gì thú vị, chung với gia đình. Họ chỉ là lạm dụng từ homstay, vậy mà các nhà quản lý vẫn cứ cấp phép…”.

Sau nhiều ngày trải nghiệm, nếu phân tích đúng nghĩa của một thành phố du lịch, Đà Lạt vẫn “thừa chỗ ngủ, thiếu chỗ chơi”. Ban ngày, hầu hết du khách du lịch Đà Lạt 3 ngày 2 đêm lang thang chụp hình lưu niệm và ăn; đêm đến, hầu hết du khách đổ về chợ. Nếu đến Đà Lạt để vui chơi, chắc chắn du khách sẽ thất vọng. Vì những khu vui chơi giải trí của Đà Lạt nghèo nàn, thiếu hấp dẫn. Nếu đến Đà Lạt để nghỉ dưỡng thì đừng ra phố, đừng vào chợ, mới cảm nhận được sự bình an và tránh những phiền toái đáng tiếc như kẹt xe, rác thải bừa bãi, tình trạng chen lấn tại các nhà hàng, quán ăn, chợ truyền thống cũng như chợ văn minh,…

Hầu hết những du khách đã từng yêu thành phố ngàn hoa - Đà Lạt, quay lại đều thất vọng và nhớ hồn Đà Lạt. Đó là một thành phố sương mù yên ả mê hồn…

Đứng giữa Đà Lạt mà lạc lõng, mà nhớ về Đà Lạt… Nếu các nhà quản lý, các nhà làm du lịch địa phương không chú trọng đến cảm xúc du khách đến Đà Lạt, thì e rằng sự hấp dẫn của thành phố mộng mơ sẽ không còn níu chân người lữ khách trong một tương lai không xa.

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2019

Những danh thắng độc đáo của đất Quảng Yên

Không chỉ là một vùng đất có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, các lễ hội truyền thống đặc sắc, Quảng Yên còn là nơi sở hữu nhiều di tích, danh thắng. Đặc biệt, trên địa bàn thị xã còn lưu giữ được nhiều công trình kiến trúc Pháp mà nổi bật là trụ sở HĐND và UBND thị xã ngày nay. Bên cạnh công trình này còn có hai cây lim Giếng Rừng, được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia.


Hai cây lim cổ thụ dưới chân núi Tiên Sơn, phố Đoàn Kết xưa, gắn liền với hai giếng thơi - Giếng Rừng. Hai giếng này có từ lâu đời, nằm gần hai cây lim. Khu vực này trước đây là những cánh rừng cổ trên mảnh đất Yên Hưng. Những bãi cọc lim Bạch Đằng gắn với những chiến công vang dội thời Tiền Lê và Lý - Trần được khai thác từ những cánh rừng này. Hai cây lim trên 700 tuổi là di tích còn sót lại của những cánh rừng lim bạt ngàn ngày xưa. Di tích Hai cây lim Giếng Rừng chỉ cách Bãi cọc Bạch Đằng khoảng 2km, được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1988.

Theo ông Lê Vang, khu 5, phường Quảng Yên, TX Quảng Yên - nhà gần di tích Hai cây lim Giếng Rừng, cho biết: Hai cây lim gắn liền với 2 giếng thơi ở đây mà chúng tôi vẫn gọi là Giếng Rừng. Giếng quanh năm đầy nước, không bao giờ cạn, nước giếng ngọt, mát. Ngày xưa, giếng là nơi cả huyện Yên Hưng lấy nước dùng sinh hoạt, người dân bên vùng đảo Hà Nam cũng thường xuyên sang đây gánh nước về dùng. Đến giờ, tuy có nước máy rồi nhưng các hộ dân chúng tôi quanh đây vẫn cứ dùng nước ở giếng để nấu ăn...


Hai cây lim Giếng Rừng thân cây cao khoảng 30m, cành lá xum xuê, xanh tốt, tán lá vươn dài tới 20m. Trải qua năm tháng và khí hậu khắc nghiệt nhưng cây vẫn xanh tươi như một tượng đài mộc mạc, đơn sơ nhưng đầy sinh lực. Hai cây lim cổ thụ Giếng Rừng không chỉ có giá trị về mặt lịch sử, gợi nhớ thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc mà còn có giá trị về mặt tự nhiên. Được biết, nhiều nhà khoa học đề nghị nhân giống hai cây lim cổ thụ trồng thành những rừng gỗ lim quý phục vụ sản xuất và đời sống.

Dời hai cây lim Giếng Rừng, từ phố Ngô Quyền, rẽ sang phố Trần Hưng Đạo, du khách tour du xuân 2019 có thể đến thăm một trong những công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu vẫn còn lưu giữ lại trên địa bàn TX Quảng Yên, đó là trụ sở HĐND và UBND TX Quảng Yên mà trước kia là nhà Công sứ Quảng Yên. Nhà Công sứ Quảng Yên đã có hơn 120 năm tuổi, được xây dựng năm 1888-1890. Đây là nơi làm việc của Công sứ Quảng Yên, sau là dinh tỉnh trưởng tỉnh Quảng Yên. Toà nhà mang phong cách kiến trúc của Pháp, nhưng vẫn có hồn vía Việt qua các ô cửa sổ, sân vườn và vị trí phong thuỷ phương Đông của toà nhà. Trải qua thời gian dài và những lần tu bổ, tôn tạo, nhưng đến nay ngôi nhà và khuôn viên vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2019

Đảm bảo văn minh trong lễ hội đền Sóc 2019

Đây là khẳng định của ông Lê Hữu Mạnh, Phó Chủ tịch UBND huyện Sóc Sơn, Trưởng ban lễ hội tại buổi làm việc với đại diện các thôn làng, chính quyền các xã trên địa bàn tham gia lễ hội Gióng đền Sóc Sơn (Hà Nội).

Theo đó, tại buổi làm việc vào sáng ngày 11/1, ông Lê Hữu Mạnh cho biết, sau khi lễ Thánh buổi sáng, lộc hoa tre và trầu cau sẽ đưa vào hậu cung bảo vệ cẩn thận. Chiều cùng ngày, người dân và du khách tour du xuân 2019 vào khu vực này hành lễ sẽ được hướng dẫn lấy lộc mang về theo thứ tự, không để xảy ra tình trạng chen lấn, đảm bảo văn minh nơi thờ tự.


Sở dĩ năm nay, Ban tổ chức đặc biệt lưu tâm đến việc phát lộc do mùa lễ hội năm ngoái dù đã thay đổi hình thức phát lộc nhưng vẫn rơi vào tình trạng "vỡ trận" khi quá nhiều người vào xin lộc.

Ông Lê Hữu Mạnh cũng cho biết, phần lộc rước về đền Hạ (lộc hoa tre) và đền Mẫu (lộc trầu cau), các thôn làng được mang về theo đúng tục lệ cũ. Ban tổ chức cũng đề nghị thôn Vệ Linh tính toán kỹ kích thước giò hoa tre để đưa vào đền được thuận lợi. Đồng thời, Ban tổ chức cũng tính đến việc nhờ các cụ trong các thôn têm sẵn trầu cau để phát cho người dân và du khách chùa Non Nước đền Gióng trong suốt ba ngày lễ, thay vì chỉ phát lộc trầu cau như trước.

Ban tổ chức yêu cầu việc tế lễ phải thực hiện đúng theo kịch bản. Thời gian trước và trong quá trình thực hiện nghi lễ, tuyệt đối không cho người dân và du khách vào đền lễ Thánh, việc này chỉ diễn ra sau khi hoàn thành phần tế lễ của các thôn làng.

Ngoài ra, Ban tổ chức lễ hội năm nay đồng ý để thôn Vệ Linh làm giò hoa tre bằng cây vầu thay cho cây tre như trước, khi đại diện thôn đưa ra lý do tre khan hiếm, khó mua, trong khi cây vầu dễ vót hoa, dễ mua, giá thành rẻ, ông Lê Hữu Mạnh cho biết.

Lễ Hội Gióng đền Sóc Sơn là một trong những lễ hội văn hóa cổ truyền tiêu biểu và có quy mô lớn của dân tộc. Lễ hội để tưởng nhớ Thánh Gióng, vị anh hùng trong truyền thuyết đánh thắng giặc Ân, đem lại thái bình cho đất nước. Lễ hội được tổ chức với đầy đủ các nghi lễ truyền thống như: lễ khai quang, lễ rước, lễ dâng hương, dâng hoa tre lên đền Thượng, nơi thờ Thánh Gióng.


Mục đích của lễ hội nhằm tạo được không khí vui tươi, phấn khởi cho nhân dân trong huyện và du khách về dự lễ hội. Đồng thời, khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc, giáo dục truyền thống lịch sử vẻ vang, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trong quá trình tổ chức lễ hội đã xuất hiện nhiều tình trạng ẩu đả, bạo lực gây phản cảm, tạo hình ảnh kém văn minh trong mắt người dân và bạn bè quốc tế. Nguyên nhân là do tục tranh cướp giò hoa tre với quan niệm lấy được lộc Thánh sẽ may mắn cả năm.

Trước nhiều ý kiến của dư luận và đề xuất của cơ quan quản lý văn hóa, từ năm 2018, Ban tổ chức lễ hội đã thay đổi hình thức tán lộc, không để cướp lộc tập trung mà chia nhỏ lộc ra để tán, trong đó phát lộc ngay tại đền. Do năm đầu thay đổi nên việc phát lộc còn có những vấn đề nảy sinh, vì vậy năm nay, Ban tổ chức tiếp tục điều chỉnh.

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

Tràng An - Viên ngọc sáng của du lịch Ninh Bình

Quần thể Tràng An ở Ninh Bình không chỉ là danh thắng quan trọng và nổi bật bậc nhất phía bắc Việt Nam, mà còn được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hằng năm nơi đây thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan thưởng ngoạn, điều đáng nói là trong đó lượng khách du lịch nước ngoài rất đông. Có thể thấy Tràng An là viên ngọc sáng nhất trong hàng loạt các thắng cảnh của Ninh Bình.

Tràng An là một khu du lịch sinh thái nằm trong Quần thể di sản thế giới Tràng An thuộc tỉnh Ninh Bình. Nơi đây được chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng và UNESCO công nhận là di sản thế giới kép từ năm 2014. Tràng An vốn được gọi là thành Nam của kinh đô Hoa Lư xưa, nay là cố đô Hoa Lư. Tràng An với hệ thống dãy núi đá vôi có tuổi địa chất khoảng 250 triệu năm, qua thời gian dài phong hóa bởi sự biến đổi trái đất, khí hậu, biển tiến, biển thoái đã mang trong mình hàng trăm thung lũng, hàng động, đồ đầm. Trong danh thắng này còn có nhiều hệ sinh thái rừng ngập nước, rừng trên núi đá vôi và các di tích gắn với lịch sử của kinh đô Hoa Lư xưa.


Liên khu danh thắng Tràng An - Tam Cốc - cố đô Hoa Lư hiện được quy hoạch chung vào Quần thể danh thắng Tràng An, vốn là di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên ở Việt Nam với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, lịch sử văn hóa và kiến tạo địa chất, cũng là địa danh được đầu tư để trở thành khu du lịch tầm cỡ Quốc tế.

Trung tâm bến thuyền Tràng An nằm cách thành phố Ninh Bình 7 km theo hướng tây dọc đại lộ Tràng An và cách Hà Nội 96 km theo hướng nam. Vùng lõi di sản Tràng An - Tam Cốc có diện tích hơn 6.172 ha, là vùng bảo vệ đặc biệt của danh thắng. Vùng bảo vệ đặc biệt này nằm trọn trong khu rừng đặc dụng Hoa Lư, thuộc quy hoạch bảo tồn cố đô Hoa Lư và cũng thuộc quy hoạch quần thể di sản thế giới Tràng An với diện tích 12.252 ha.

Tràng An là một vùng non nước, mây trời hoà quyện. Đáy nước trong xanh soi bóng những vách núi đá trùng điệp. Nơi đây có tới 31 hồ, đầm nước được nối thông bởi 48 hang động đã được phát hiện trong đó có những hang xuyên thủy dài 2 km như hang Địa Linh, hang Sinh Dược, hang Mây,v.v.. Mỗi hang một vẻ đặc trưng như tên gọi, các hang có nhiều nhũ đá biến đổi, nước chảy ra từ trần hang làm không khí trong hang mát lạnh. Hang Tối có lòng hang rộng hẹp biến đổi bất ngờ. Hang Sáng long lanh với những nhũ đá óng ánh kỳ lạ.


Đặc biệt nhất là Hang Nấu Rượu và hang Cơm với truyền thuyết ông khổng lồ nấu rượu ở đây, mang rượu và cơm ra núi ngồi ăn. Trong hang có mạch nước ngầm sâu hơn 10 m. Tương truyền, các bậc tiền bối đã vào đây lấy nước để nấu rượu tiến vua, khi nạo vét lòng hang các nhà khảo cổ đã phát hiện rất nhiều bình gốm, hũ, vại và các dụng cụ để nấu rượu. Vòng qua hang núi Cơm, sang hang Vồng, ở đây có cây si cổ thụ rễ chùm cả miệng hang. Từ đây sang hang Láng, hang Ao Trai, giữa hang Ao Trai, lòng hang phình ra khoảng 30m. Hang động Tràng An có những nét đặc trưng nổi bật của một khu di sản với bốn loại hang động chính: Hang ngầm cổ, hang nền Karst cổ, hang mái đá và hang hàm ếch.

Tràng An có thể tạo thành nhiều hành trình xuyên thủy khép kín mà không phải quay ngược lại. Quần thể hang động này được ví như một trận đồ bát quái. Các dãy núi, hồ nước và hang động tạo thành một thế trận liên hoàn. Mỗi hồ là một bức tranh thủy mặc khác nhau về thế núi, dáng núi và hồ nước. Mây trời, non xanh, nước biếc hòa quyện với nhau, thoắt ẩn, thoắt hiện. Ðiều diệu kỳ ở Tràng An là các hồ được nối liền với nhau bởi các gạch nối là các động xuyên thủy có độ dài, ngắn khác nhau. Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi kia. Núi giăng thành luỹ bao bọc quanh hồ nước và ở giữa nổi lên khu đất với rừng cây mọc thành đảo. Xa xa trên triền núi, dưới tán cây rừng lúp xúp là những đàn dê núi leo trèo trên các tảng đá chênh vênh.

Tràng An gắn liền với những giá trị lịch sử, văn hóa của vùng đất cố đô Hoa Lư. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất giang sơn, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Kinh đô Hoa Lư gồm 4 thành: Đông - Tây - Nam - Bắc; trong đó có Thành Nam rộng lớn, là vùng núi cao hiểm trở để phòng thủ, che chở kinh thành hiện được gọi là Tràng An. Với đặc thù địa hình như vậy, kinh đô Hoa Lư được ví như kinh đô đá với đặc điểm: núi là thành, sông là đường, hang động là cung điện.


Một phần của hang động Tràng An đã được Ninh Bình đưa vào khai thác phục vụ du lịch. Hiện nay, du khách tour Hà Nội Bái Đính Tràng An đến Tràng An thường tham gia 2 tuyến du lịch, tuyến tham quan bằng thuyền nan kéo dài 3 giờ và một tuyến du lịch leo núi.

+ Tuyến chèo thuyền: Hang động Tràng An có nét đặc trưng riêng biệt là hình thức du thuyền trên các thung nước tạo bởi nhiều vách núi đá được nối thông nhau bằng những hang nước mà không phải quay ngược lại. mất khoảng 3 đến 4 tiếng để chúng ta đi thuyền qua các hang động này.

+ Tuyến leo núi: Tuyến du lịch đường bộ có chiều dài 1,6 km, du khách sẽ đi bộ qua 3 quèn vào đền Trần. Tuyến này bắt đầu từ bến Cây Bàng, du khách sẽ đi bộ, leo núi qua ba đèo liền nhau. Đèo thứ nhất là đèo Cậy có độ cao so với mặt nước khoảng 60m. Đèo thứ hai là đèo Vài. Và đèo thứ ba là đèo đền Trần. Hiện nay, đường leo núi này đã được xây các bậc đá rộng. Trên đường đến đền Trần đã dựng 7 chiếc lầu bằng gỗ lim hình bát giác làm nơi nghỉ chân cho du khách khi leo núi.


Ðiều diệu kỳ ở Tràng An là các hồ được nối liền với nhau bởi các gạch nối là các động xuyên thủy có độ dài, ngắn khác nhau. Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi kia. Núi giăng thành luỹ bao bọc quanh hồ nước và ở giữa nổi lên khu đất với rừng cây mọc thành đảo. Xa xa trên triền núi, dưới tán cây rừng lúp xúp là những đàn dê núi leo trèo trên các tảng đá chênh vênh.

Tới Tràng An, bạn sẽ được ngồi trên con thuyền lướt nhẹ qua các dãy núi, ngắm nhìn làn nước trong vắt tới đấy, khám phá những hang động kỳ bí, được nghe người lái thuyền thuyết minh về ý nghĩa tên gọi của hang hay những truyền thuyết gắn liền với nó.

Nhiều du khách du lịch Ninh Bình 1 ngày ví Tràng An là "Hạ Long trên cạn", nhưng không, Tràng An là Tràng An, nơi có làn nước trong xanh biếc, nơi những hang động muôn hình muôn vẻ, nơi cảnh đẹp gắn liền với lịch sử kinh đô nước Đại Cồ Việt xưa kia, nơi không có những du thuyền buồm sang trọng như Hạ Long, chỉ có chiếc xuồng lá mộc mạc cùng người lái thuyền chất chất đưa bạn rong ruổi hành trình thưởng ngoạn sơn thủy.

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp thanh thoát giản dị của đền Bà Đế

Không chỉ người Hải Phòng, rất nhiều du khách cả nước biết đến đền Bà Đế, nằm sát chân sóng biển ở quận Đồ Sơn - ngôi đền gắn với truyền thuyết về nỗi oan trái của một người con gái, đó là bà Đào Thị Hương ở vùng Tây Nam Đồ Sơn, đã được dân làng lập miếu thờ ở dưới chân núi Độc.

Ðền tựa chân vào núi, phía trước mặt là biển khơi bao la, sơn thủy thật hữu tình tạo nên một kỳ quan thiên nhiên độc đáo. Đền Bà Đế là một trong những đền nổi tiếng về danh thắng và linh thiêng.

Ðền có cấu trúc giản dị nhưng thanh thoát và trang nhã, nép mình vào lưng núi, trước mặt là biển khơi bao la, tạo nên một kỳ quan thiên nhiên độc đáo không thua gì “Nam thiên đệ nhất động - Chùa Hương”.


Bà Đế có tên thật là Đào Thị Hương. Tương truyền vào năm 1718, ở phía Đông Nam vùng Ngọc Ðồ Sơn có đôi vợ chồng họ Ðào, đã hai mươi năm không có con. Hai vợ chồng tu thân, tích đức, cầu xin trời phật cho một mụn con.

Trời phật động lòng, chứng giám, rồi báo mộng cho người vợ được mang thai. Tròn ngày, tròn tháng, đứa bé ra đời và được đặt tên là Ðào Thị Hương. Từ khi sinh ra, người đứa trẻ đã toả hương thơm ngát, phát ánh hào quang và đi đến đâu cũng có làn mây che đến đó. Càng lớn lên đứa trẻ (Bà Ðế) càng xinh đẹp, lộng lẫy. Bà Ðế rất khéo tay, siêng năng mọi việc. Hàng ngày bà đi chăn trâu, cắt cỏ, tay làm, miệng hát, tiếng hát ngân vang cả núi rừng. Người ta nói rằng, tiếng hát của bà làm chim ngừng hót, sóng ngừng vỗ, đất trời lặng đi để lắng nghe. Sử sách chép, vì Trịnh Giang bỏ bê chính sự, không đoái hoài tới công việc, từ năm 1736, đã trao quyền nhiếp chính cho Trịnh Doanh, lúc đó ông mới 17 tuổi. Để nắm rõ chính sự, cũng như thấu hiểu cuộc sống của người dân, ngay trong năm, Chúa Trịnh Giang đi kinh lý Ðồ Sơn. Vào năm 1736, Chúa Trịnh Giang về kinh lý Ðồ Sơn. Chúa cùng đoàn người dạo thắng cảnh bằng thuyền rồng trên núi Ðộc. Xúc động trước tiếng hát mượt mà, Chúa truyền cho quân lính đi tìm người hát. Khi gặp được bà với vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, Chúa yêu mến và quyến luyến không rời. Khi về Kinh đô, Chúa có hẹn ngày về đón bà. Bà mang thai, trong lòng rất lo sợ, ngày đêm trông ngóng thuyền hoa của Chúa. Hàng Tổng biết chuyện đòi phạt tiền. Nhà nghèo không có tiền nộp phạt, hàng tổng đem bà ra khu núi Ðộc rồi dìm bà xuống biển. Trước khi chết, bà ngửa mặt lên trời khóc than rằng: “Phận gái thân cô, gặp Chúa yêu thương tôi đâu dám chống, nhìn mẹ cha, hàng xóm tôi đâu dám quên. Xin trời phật chứng giám cho lòng con. Khi con bị dìm xuống nước, nếu có oan ức, trời phật cho con nổi lên ba lần”. Quả nhiên bà nổi lên ba lần, mọi người ai nấy đều kinh sợ. Sau một tháng, thuyền hoa của Chúa về rước bà về Kinh.

Biết chuyện oan khuất, Chúa Trịnh Giang cho xây đền, lập đàn giải oan cho bà. Sự thiêng liêng của Đền làm cho bọn cướp biển không dám lần mò tới, bọn hào lý cũng không dám trắng trợn nhũng nhiễu dân lành. Vào thời Vua Tự Đức Triều Nguyễn, trong một lần thăm đền nàng Hương, Nhà Vua đã ban sắc phong là “Đông nhạc Đế bà - Trịnh Chúa phu nhân” và từ đó, ngôi đền được gọi là đền Bà Đế.


Từ bấy đến nay, khách thập phương tấp nập trảy hội đền Bà Ðế. Người ta đến để xin tài, xin lộc và đặc biệt cùng bà giải mọi nỗi oan khuất mà mình gặp phải.

Trước đây đền Bà Đế khá nhỏ nằm trên bãi biển dưới chân núi Độc. Ngôi đền ngày một xuống cấp vì thời gian. Năm 1988, bà Lưu Quế Hoa ở phường Ngọc Hải đã cùng con cháu phát tâm công đức và quyên góp xây dựng lại ngôi đền to hơn, chắc chắn hơn. Có lẽ, cũng do Đế Bà linh thiêng nên từ khi ngôi đền được xây dựng lại, khách thập phương đến thăm quan và thắp hương cầu an ngày càng đông. Thủ hương Lưu Quế Hoa đã góp nhặt những đồng tiền công đức của du khách để rồi mỗi năm một ít, bà cùng con cháu lấn biển xây thành chắn sóng. Đến hôm nay, sau hơn 20 năm góp nhặt dựng xây, đền Bà Đế đã trở thành một quần thể chắc chắn và được bọc phía trước là bức thành đá, bê tông sừng sững thách thức cùng sóng biển, phía sau là dãy núi Độc chở che, tạo nên một phong cảnh sơn thủy hữu tình tuyệt đẹp bên bờ biển Đông. Hàng năm, ngày 26 tháng Giêng là ngày khai xuân và cúng cơm, ngày 24, 25, 26 tháng Hai là ngày lễ tạ Đức Bà. Những ngày này, du khách thập phương về rất đông, nhưng nơi đây không hề có bói toán, đồng bóng và cờ bạc, tắc nghẽn giao thông như một số điểm du lịch tâm linh khác, tạo nên không khí trang nghiêm, trong lành và văn hóa.

 Mùa hè, về du lịch biển Đồ Sơn, đền Bà Đế cũng là một điểm du lịch hấp dẫn. Mỗi buổi chiều hè, khi mặt trời đã khuất sau rặng núi Độc, du khách tour lễ chùa đầu năm đứng dưới gác chuông của đền nhìn ra biển lăn tăn sóng sánh ánh hoàng hôn thấy cuộc sống thanh bình và đáng yêu đến lạ. Và từ trong sâu thẳm của lòng biển còn vang lên tiếng hát thiết tha của người con gái đẹp của đất Đồ Sơn- Đào Thị Hương năm nào, giữa trùng khơi, sóng biển vẫn thì thầm kể câu chuyện về “Đông nhạc Đế bà”...

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

Hội An đón đoàn khách đầu tiên tham quan Phố Cổ trong năm 2019

Sáng ngày 1/1, thành phố Hội An, Quảng Nam đã tổ chức đón đoàn khách đầu tiên tham quan phố cổ trong năm 2019. Nghi lễ trà đạo Nhật Bản tại đình Cẩm Phô đã được lãnh đạo Hội An và Quảng Nam mời các vị khách đầu tiên đến với Hội An nhân dịp năm mới này.

Đoàn khách “xông đất” phố cổ Hội An đầu năm 2019 gồm 15 người đến từ các nước Châu Âu. Ngay sau khi đặt chân đến đình Cẩm Phô, đoàn khách tour Đà Nẵng Hội An 4 ngày 3 đêm được lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, Sở VH-TT&DL, thành phố Hội An chào đón, tặng hoa và quà lưu niệm chúc mừng.


Năm 2018, ngành du lịch tỉnh Quảng Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Tổng lượt khách tham quan, lưu trú đạt 6,5 triệu lượt, tăng hơn 21 % so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách quốc tế đạt 3,8 triệu lượt, tăng hơn 36%. Doanh thu từ tham quan, lưu trú du lịch năm 2018 đạt 4.700 tỷ đồng, tăng hơn 21% so với năm 2017. Thu nhập xã hội từ tham quan, lưu trú du lịch ước đạt 11.100 tỷ đồng.


Tỉnh Quảng Nam hiện có 10 thị trường khách quốc tế tham quan, lưu trú gồm Hàn Quốc, Úc, Anh, Pháp, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha. Trong đó, khách Hàn Quốc tour Da Nang Hoi An Hue 5 ngay 4 dem đến tham quan, lưu trú chiếm phần lớn.

Ông Trần Văn Tân - Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Nam cho biết, định hướng 2019, tỉnh Quảng Nam sẽ thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với những giá trị văn hóa đặc trưng ở khu vực miền núi. Đặc biệt, tỉnh Quảng Nam chú trọng mở rộng không gian phát triển du lịch về phía Tây và phía Nam của tỉnh. Trong đó, vùng Đông - Nam của tỉnh sẽ chú trọng những dự án du lịch giải trí cao cấp.


Năm 2019 sẽ đưa vào khai thác dự án du lịch Nam Hội An - một trong những dự án du lịch trọng điểm vùng Đông - Nam sẽ phát triển. Lãnh đạo tỉnh Quảng Nam tin tưởng trong năm 2019, cùng với những kết quả đạt được thì ngành du lịch của địa phương sẽ phát triển mạnh hơn nữa.

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018

Giá trị độc đáo đa dạng của chùa Tam Thanh

Nằm trong lòng thành phố Lạng Sơn, Động Tam Thanh thuộc quần thể di tích danh thắng Nhị-Tam Thanh – Núi Tô Thị – Thành Nhà Mạc, cách ngã 6 Pò Soài khoảng 600m, đi theo đường Tam Thanh.

Đây là một di tích lịch sử, văn hoá và danh thắng nổi tiếng của xứ Lạng. Trong động có chùa gọi là chùa Tam Thanh (hay còn gọi là chùa Thanh Thiền).


Chùa Tam Thanh xưa kia là nơi thờ tự của Đạo Giáo, thờ Tam Thanh (Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh) nên có tên gọi là chùa Tam Thanh. Sau này do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, Đạo Giáo mờ nhạt trong tâm thức dân chúng địa phương, người ta đưa các yếu tố thờ tự của Phật giáo, thờ Thánh vào trong di tích.

Hiện nay, nơi đây trở thành nơi thờ tự của nhiều loại hình tín ngưỡng-tôn giáo với các cung thờ như: Cung Tam Bảo, cung Thánh Mẫu, cung Sơn Trang… với một hệ thống tượng thờ khá phong phú. Giá trị nhất về mặt niên đại và mỹ thuật là bức phù điêu Adiđà có niên đại vào thế kỷ XVII được tạc vào vách đá theo thế đứng trong hình lá bồ đề, nằm phía trên cung Tam Bảo.

Qua các tài liệu thư tịch cổ, các nhà nghiên cứu cho rằng chùa Tam Thanh có từ thời Lê. Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, hiện nay trong chùa Tam Thanh vẫn lưu giữ được hệ thống văn bia khá phong phú, có giá trị về mặt sử liệu và văn học nghệ thuật do các văn nhân, thi sĩ qua các thời kỳ lịch sử lưu lại. Tấm bia có niên đại cổ nhất ở Chùa hiện nay là bia “Trùng tu Thanh Thiền động”, được chế tác vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677) do Binh sứ Bắc quân đô phủ, Đô đốc Thiêm sự, Vũ quận công Vi Đức Thắng tạo dựng. Đặc biệt, tại đây còn lưu giữ tấm bia bằng chữ Nôm duy nhất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn do Tuần phủ Thái Bình là Đào Trọng Vận viết năm 1924.


Đi sâu vào trong Động có hồ Âm Ty, nước trong mát, không bao giờ vơi cạn, nước chảy suốt ngày đêm. Trên các trần hang có nhiều nhũ đá thiên tạo từ ngàn xưa với những hình thù sinh động kỳ bí như: cây Ngô Đồng, Tiên Ông, Sư Tử, Voi… Du khách tour du xuân 2019 đi tiếp vào bên trong đến một sân khấu nhỏ, có hai cửa thông thiên rọi ánh sáng vào động làm cho những nhũ đá đẹp lung linh lạ thường. Từ Động Tam Thanh, có đường dẫn lên Lầu Vọng Thị để du khách có thể ngắm nhìn tượng đá nàng Tô Thị bồng con chờ chồng, sau đó tham quan ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc Tày ở Lạng Sơn.

Bên cạnh giá trị đặc sắc về tín ngưỡng-tôn giáo, văn học nghệ thuật, nguồn sử liệu… đến với di tích Động Tam Thanh – Chùa Tam Thanh, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên và hòa mình vào không khí lễ hội Chùa Tam Thanh được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng hàng năm với nhiều nghi lễ, tập tục truyền thống đặc sắc của nhân dân xứ Lạng./.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Hương vị đậm đà khó quên của muom-muom-rang-muong-lo

Muồm muỗm rang Mường Lò là một trong những đặc sản nổi tiếng của Yên Bái và nếu có một lần đặt chân đến vùng đất này, đừng quên nếm thử.

Nhắc đến vùng đất Yên Bái, không ít người nghĩ ngay đến những địa danh nổi tiếng như Mù Cang Chải rồi hồ Thác Bà. Tuy nhiên, Yên Bái cũng rất nổi tiếng với nhiều món ngon trở thành đặc sản hấp dẫn du khách du lịch Yên Bái xa gần. Và một trong những đặc sản đó chính là món Muồm muỗm rang Mường Lò.


Muỗm muỗm rang Mường Lò được chế biến từ những con muồm muỗm. Muồm muỗm thoạt nhìn trông rất giống với con cào cào tuy nhiên nếu để ý kỹ hơn một chút sẽ thấy, muồm muỗm thân mình thon và phần cánh cũng nhỏ gọn hơn. Theo người dân ở nơi đây thì muồm muỗm thường ăn các loại như trứng sâu, muỗi…ở trong các ruộng lúa cho nên cũng được xem là một loại “thiên địch”. Và vào mùa gặt cũng chính là mùa của muồm muỗm.

Nếu bạn lần đầu đến với Yên Bái mà lại trúng vào gặt thì chắc hẳn sẽ rất ngạc nhiên với cảnh tượng bắt muồm muỗm của bà con nơi đây. Ở trên con đường trải dài, dưới màu vàng của những ngọn đèn cao áp là những đoàn người rườm rượp đang bắt muồm muỗm.

Từ người già cho đến những người trẻ, từ trẻ con cho đến người lớn, từ nam cho đến nữ đều chia thành từng nhóm nhỏ, cầm dụng cụ trên tay cứ thế đi bộ và bắt những con muồm muỗm đang bay lượn ở gần đó.

Vào mùa gặt muồm muỗm xuất hiện rất nhiều, và chúng bay thành thành từng đàn, từng đàn rào rào dưới những ánh đèn cao cáp, đèn của xe cộ qua lại. Và con nào con nấy trông cũng rất to, bằng với ngón tay áp út. Một khi chúng bay mỏi, chúng sẽ đậu lên cả những bước tường, trên những cành cây hoặc có khi là sàn xuống ở giữa mặt đường. Và đây chính là cơ hội cho những người đang đi để bắt chúng.

vnf03-5418-01.jpg (600×400)

Dụng cụ để bắt muồm muồm chỉ là dụng cụ đơn giản như chai nhựa cầm trong tay, những chiếc gậy dài và một chiếc đèn pin…Cầm những dụng cụ ở trên tay, đi đi lại lại rồi vồ vồ và chụp chụp…ấy thế mà cũng có rất nhiều người bắt được khá nhiều những chú muồm muỗm.

Việc bắt muồm muỗm trông thì đơn giản nhưng để bắt được nhiều thì lại là một thách thức đối với những người đang đi bắt chúng. Bởi với những chú muồm muỗm đang bay ở tầm thấp hoặc là đậu trên tường, dưới đường ra thì với những chú muồm muỗm ở trên cao lại phải cần đến những dụng cụ tự chế đặc biệt. Đó chính là một chiếc sào dài và một phần của sào sẽ được gắn vào đó một cái phễu, phễu này được làm bằng chai nhựa và đã được cắt bỏ đi phần đáy.

Và khi đã bắt được muồm muỗm rồi thì cũng cần phải biết cách để đưa muồm muỗm ra khỏi phễu, nếu không sẽ bị nó cắm. Đơn giản đó là cầm vào phần gáy của muồm muỗm, làm như thế thì nó không thể quay đầu và cắm vào tay được nữa.

Đặc biệt trời càng về khuya thì muồm muỗm bay càng nhiều, tuy nhiên lúc này người đi bắt cũng thưa dần vì họ đã bắt đủ để làm món muồm muỗm rang Mường Lò đủ dùng cho gia đình mình.

Muồm muỗm rang Mường Lò là một đặc sản của vùng đất Yên Bái và bất kì du khách đền Đông Cuông Yên Bái dù thưởng thức một lần thôi cũng không bao giờ có thể quên đi được cái hương vị đậm đà mà nó mang lại.


Tuy nhiên, để có được muồm muỗm rang Mường Lò thưởng thức cần phải trải qua khâu chế biến. Cần phải bỏ đầu, bỏ cánh, bỏ chân và rút ruột của muồm muỗm. Rất nhiều người nhận xét, muồm muỗm sau khi chế biến trông chẳng khác gì kén của tằm dâu. Sau đó sẽ đem muồm muỗm đi rửa sạch và cho vào trong trong chảo.

Đầu tiên sẽ cho muồm muỗm vào om cùng với nước măng chua hoặc là giấm gạo ở trên ngọn lửa nhỏ. Cứ đun như thế cho đến khi cạn nước, rồi cho mỡ hoặc là dầu ăn vào rồi đảo cho thật đều ở trên ngọn lửa lớn. Rang như thế cho đến khi nào nghe được tiếng nổ lách tách thì có nghĩa là muồm muỗm đã chín. Lúc này cho gia vị và một chút ớt tươi và đảo thật nhanh tay. Sau đó cho thêm lá chanh vào đảo thêm một lúc rồi bắc chảo ra. Muồm muỗm sau khi được rang chín có màu vàng sậm và đặc biệt là rất thơm.

Muồm muỗm rang Mường Lò là một món ăn dân dã, quen thuộc trong bữa cơm của người dân nơi đây và nó cũng trở thành một món đặc sản nổi tiếng mà khi đặt chân đến vùng đất này, du khách đừng quên nếm thử.

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2018

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp trường tồn của đình làng Mông Phụ

Về thăm Làng cổ Đường Lâm - thị xã Sơn Tây, du khách tour lễ hội 2019 không thể không ghé thăm ngôi đình Mông Phụ. Cùng với chùa Mía, đình Mông Phụ là một điểm sáng về văn hóa, một công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật ở miền quê thuần Việt này.


Đình Mông Phụ được xây dựng từ bao giờ, vào năm nào và thờ ai là câu hỏi cho tới nay chưa có câu trả lời rõ ràng. Tuy vậy, theo nhiều nghiên cứu, thì đình Mông Phụ được xây dựng vào thời kỳ Hậu Lê và đầu thời nhà Nguyễn. Năm 1858, thời Tự Đức, đình được sửa chữa lần thứ nhất, và đến nay vẫn giữ nguyên dạng kiến trúc, điêu khắc đầu thế kỷ XIX. Đình thờ Tản Viên Sơn Thánh - vị thần đứng đầu trong Tứ bất tử của người Việt - làm Thành hoàng làng, như một chỗ dựa tinh thần, một trung tâm hội tụ đoàn kết của cộng đồng để bảo vệ và xây dựng xóm làng. Đình được xây dựng ở vị trí đẹp nhất làng, trên một khu đất cao ráo, thoáng đãng, rộng khoảng 1.800 m2. Đình quay hướng tây nam, mang ý nghĩa đề cao đức Thành hoàng làng và hướng về cái đẹp, cái thiện trên nền tảng trí tuệ.

Đình được xây dựng theo kiểu chữ Công (I); gồm Nghi Môn, Tả Mạc, Hữu Mạc và Đại Đình. Đáng quan tâm nhất là kiến trúc của tòa Đại Đình, được dựng theo kiểu "ba gian hai chái", sáu hàng chân cột đặt trên một nền đất thấp, trên có sàn bằng ván gỗ; xung quanh chỉ có lan can gỗ kiểu chấn song nên rất thông thoáng. Bộ khung đình được trạm khắc chủ yếu là các họa tiết rồng, lân, cá chép, chim, hoa lá… đơn giản nhưng không kém phần sống động, gợi cảm. Mái đình to, bè, hơi võng nhẹ, bờ nóc hơi cong; được lợp bằng ngói mũi hài; trên các góc mái được trang trí bởi các con vật thuộc hàng "tứ linh" như rồng, lân… với những vân xoắn lớn. Nhìn chung, những họa tiết trang trí trên bộ mái đều gắn với vũ trụ; khiến cho mái đình, thân đình và dưới đất hợp thành một thể thống nhất, hòa hợp của thiên (trời) - địa (đất) - nhân (con người).


Hàng trăm năm nay, đình Mông Phụ là niềm tự hào của người dân làng cổ Đường Lâm. Đứng trước ngôi đình này, chúng ta cảm thấy rõ ràng một dòng văn hóa xứ Đoài vẫn còn đang hiện hữu, như sự minh chứng của cái đẹp trường tồn trước thời gian. Đình đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

Bất cập trong bảo tồn giá trị làng cổ Đường Lâm

Làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội trở thành làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 2006. Tuy nhiên, trải qua 12 năm thì công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nơi đây hiện vẫn đang gặp nhiều khó khăn, bất cập.

Khóc dở, mếu dở vì trùng tu

Mới đây, Ban Quản lý di tích làng cổ Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) đã tổ chức cuộc họp để thông báo tiến độ tu bổ nhà cổ. Nhiều ý kiến bức xúc, khóc dở mếu dở của người dân trong việc trùng tu đã được nêu ra. Nghịch lý là nhà kiên quyết từ chối, nhà mòn mỏi đợi được tu bổ.Trường hợp trùng tu của gia đình ông Cao Văn Chiến, thôn Cam Thịnh bị chắp vá đủ kiểu.


Ông Chiến cho biết: “Gia đình tôi thuộc diện nhà cổ và đã được tu sửa được 8-9 năm nhưng gỗ đã mối mọt đục hết, ngày nào cũng phải quét mối mọt”. Ông Chiến cũng cho biết, hiện ông không thể ở được mà chỉ qua lại trông nom vì mái dột, thủng khắp nơi do chất lượng trùng tu kém và ẩu. Mái cũ nhà ông dùng nhiều năm, chẳng bị làm sao, nhưng thay mái mới trùng tu thì chỉ mấy năm là bị trôi, vẹo hết mái.

Ông Chiến bức xúc: “Biết thế này thì tôi không cho sửa nữa. Rất nhiều nhà được sửa cũng nằm chung tình trạng này. Nhà nước có chính sách sửa và giữ được nguyên bản nhà cổ thì ai cũng quý, cũng vui nhưng đúng là khi sửa xong như thế này xuống cấp quá nhanh thì không được, đến ở còn không xong. Tôi đã có suy nghĩ phải tự mình dỡ mái ra để tự sửa mới được, chứ đợi xin phép thì chắc không còn nhà nữa”.

Với lo ngại tình trạng sẽ diễn ra như nhà ông Chiến, gia đình ông Trương Văn Bản kiên quyết từ chối trùng tu: “Nhà tôi 3 gian giữa là nguyên bản chưa hề sửa chữa, gỗ vẫn là gỗ từ xưa có tuổi đời gần 270 năm. Năm 2014, thấy nhà bị xuống cấp, tôi đã xin phép để sửa tuy nhiên tôi không đồng ý cách tu bổ của họ nên không đồng ý cho sửa. Cách thức chỉ là chắp vá và nối vào chỗ mục, chỗ hỏng vì không muốn nhà bị chắp vá nên tôi không đồng ý. Hàng cột các cụ để lại hàng trăm năm mới có dấu hiệu hỏng, trong khi gỗ thay thế vài ba năm đã cong vênh, mối mọt. Thực tế đã có nhiều nhà tu bổ xong còn tệ hơn”.

Trong khi đó, gia đình bà Bùi Thị Thành, thôn Cam Lâm lại mòn mỏi chờ đợi được tu bổ. Bà Thành cho hay: “Nhà tôi có tuổi đời khoảng trên 100 năm, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên gia đình không thể tu bổ được. Tôi đã có mấy lần làm đơn đề nghị được cấp phép tu bổ vì tường, vách đã bị mục, nứt hết tạo nên những lỗ hổng hông hốc. Mái nhà, gỗ đã bị mục nát hết, cột bị mối mọt ăn hết tất cả.


Nếu có trận mưa là phải tát nước ra hoặc mang chậu thau ra hứng chỗ dột. Nền bị võng xuống như một cái lòng thuyền, nước chảy tràn hết xuống nhà, rất khó khăn trong sinh hoạt. Tôi chỉ làm ruộng, quanh năm không có tiền, nhà lại không được sửa, rất vất vả. Nhiều khi tôi đã không muốn nhận danh hiệu nhà cổ nữa. Tôi muốn đề nghị thay hoặc sửa lại nhà để tiện sinh hoạt”.

Giải pháp đồng bộ

Hiện nay, làng cổ Đường Lâm có hơn 900 gia đình sống trong cảnh “khóc dở mếu dở” vì nhà cổ. Sau 12 năm, từ khi làng cổ Đường Lâm được công nhận là di tích cấp Quốc gia, phân loại danh mục các nhà cổ được bảo tồn, mới có 17/956 ngôi nhà được trùng tu, sửa chữa. Liên quan đến nghịch lý trùng tu, ông Phạm Hùng Sơn – Trưởng Ban Quản lý di tích làng cổ Đường Lâm cho biết, địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong công tác trùng tu nhà cổ, có những gia đình được cấp kinh phí và hướng dẫn cho trùng tu nhưng không nhất trí. Ông Sơn cho biết, việc trùng tu được thực hiện theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, theo đó, phải bảo tồn nguyên yếu tố gốc của di tích.

Biện pháp trùng tu Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định là hỏng đâu sửa đấy. “Ví như cột bị hỏng khoảng bao nhiêu % thì phải sửa chỗ đó, có những cái cột ở giữa nhà nhưng không cho người dân thay mới thì họ sẽ không chịu. Nhiều cột, nhà bị mối mọt đáng lẽ ra phải thay nhưng theo quy định thì không được thay, chỉ hỏng đâu sửa đó, làm bằng gỗ xoan thì người dân lại không muốn làm nữa. Dân lúc nào cũng muốn mới, không bao giờ chấp nhận bị chắp vá có trong nhà họ.


Giờ làm nhà bảo tàng thì được nhưng nếu để ở thì khó, bảo tồn phải bảo tồn nguyên trạng thì rất khó” – ông Sơn cho biết. Đây là một việc Ban Quản lý gặp khó khăn trong việc giữ lại những ngôi nhà cổ. Người dân từ chối nhận tiền đầu tư của Nhà nước, bởi vì nếu nhận thì phải thực hiện tu bổ sửa chữa theo cách của người dân. Họ giải quyết bằng cách không ở trong những ngôi nhà cổ đó nữa, mà nhà đó không ở trong một vài năm sẽ bị sập ngay.

Thực tế, phải có giải pháp đồng bộ sao cho vừa giữ được nét cổ nhưng cũng phải mang lại lợi ích cho người dân. Trong đó, cái cốt lõi nhất là phải làm thế nào cho người dân được hưởng lợi từ dịch vụ, du lịch, những sản phẩm nông nghiệp, đặc sản trở thành sản phẩm du lịch như khoai, bánh tẻ, tương, rượu... Tuy nhiên, hiện nay mới có khoảng 10% có được thu nhập từ dịch vụ du lịch. Ban Quản lý cũng đã tổ chức nhiều hoạt động, tập huấn cho người dân dưới sự phối hợp với Nhật Bản, bố trí lại không gian những ngôi nhà, hướng dẫn dân nấu, thi nấu cỗ, hỗ trợ người dân tổ chức chợ quê thu hút du khách du xuân đầu năm.

Trước thực trạng này, mới đây UBND thành phố Hà Nội đã có Văn bản số 11403/VP-KGVX về việc điều chỉnh khoanh vùng bảo vệ khu vực II di tích làng cổ Đường Lâm. Trong đó, việc điều chỉnh được triển khai theo hướng thu hẹp diện tích bảo vệ, khu vực khoanh vùng dự kiến là hai làng Mông Phụ và Cam Thịnh để việc quản lý được tập trung, hiệu quả hơn.

Ông Sơn cũng cho biết, UBND thị xã Sơn Tây và Sở Văn hoá – Thể thao Hà Nội đã họp với các ngành để đẩy nhanh tiến độ quy hoạch. Địa phương đang thuê lại đơn vị đánh giá lại kiến trúc, thiết lập lại bản đồ quy hoạch di tích. Trong tháng 4,5 tới đây sẽ tổ chức thông qua hội nghị với người dân cùng các nhà quản lý, các nhà khoa học để điều chỉnh khoanh vùng khu vực II của di tích làng cổ Đường Lâm.

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

Vẻ đẹp long lanh kỳ ảo của danh thắng Tràng An

Quần thể Tràng An ở Ninh Bình không chỉ là danh thắng quan trọng và nổi bật bậc nhất phía bắc Việt Nam, mà còn được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hằng năm nơi đây thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan thưởng ngoạn, điều đáng nói là trong đó lượng khách du lịch nước ngoài rất đông. Có thể thấy Tràng An là viên ngọc sáng nhất trong hàng loạt các thắng cảnh của Ninh Bình.

Tràng An là một khu du lịch sinh thái nằm trong Quần thể di sản thế giới Tràng An thuộc tỉnh Ninh Bình. Nơi đây được chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng và UNESCO công nhận là di sản thế giới kép từ năm 2014. Tràng An vốn được gọi là thành Nam của kinh đô Hoa Lư xưa, nay là cố đô Hoa Lư. Tràng An với hệ thống dãy núi đá vôi có tuổi địa chất khoảng 250 triệu năm, qua thời gian dài phong hóa bởi sự biến đổi trái đất, khí hậu, biển tiến, biển thoái đã mang trong mình hàng trăm thung lũng, hàng động, đồ đầm. Trong danh thắng này còn có nhiều hệ sinh thái rừng ngập nước, rừng trên núi đá vôi và các di tích gắn với lịch sử của kinh đô Hoa Lư xưa.


Liên khu danh thắng Tràng An - Tam Cốc - cố đô Hoa Lư hiện được quy hoạch chung vào Quần thể danh thắng Tràng An, vốn là di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên ở Việt Nam với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, lịch sử văn hóa và kiến tạo địa chất, cũng là địa danh được đầu tư để trở thành khu du lịch tầm cỡ Quốc tế.

Trung tâm bến thuyền Tràng An nằm cách thành phố Ninh Bình 7 km theo hướng tây dọc đại lộ Tràng An và cách Hà Nội 96 km theo hướng nam. Vùng lõi di sản Tràng An - Tam Cốc có diện tích hơn 6.172 ha, là vùng bảo vệ đặc biệt của danh thắng. Vùng bảo vệ đặc biệt này nằm trọn trong khu rừng đặc dụng Hoa Lư, thuộc quy hoạch bảo tồn cố đô Hoa Lư và cũng thuộc quy hoạch quần thể di sản thế giới Tràng An với diện tích 12.252 ha.

Tràng An là một vùng non nước, mây trời hoà quyện. Đáy nước trong xanh soi bóng những vách núi đá trùng điệp. Nơi đây có tới 31 hồ, đầm nước được nối thông bởi 48 hang động đã được phát hiện trong đó có những hang xuyên thủy dài 2 km như hang Địa Linh, hang Sinh Dược, hang Mây,v.v.. Mỗi hang một vẻ đặc trưng như tên gọi, các hang có nhiều nhũ đá biến đổi, nước chảy ra từ trần hang làm không khí trong hang mát lạnh. Hang Tối có lòng hang rộng hẹp biến đổi bất ngờ. Hang Sáng long lanh với những nhũ đá óng ánh kỳ lạ.


Đặc biệt nhất là Hang Nấu Rượu và hang Cơm với truyền thuyết ông khổng lồ nấu rượu ở đây, mang rượu và cơm ra núi ngồi ăn. Trong hang có mạch nước ngầm sâu hơn 10 m. Tương truyền, các bậc tiền bối đã vào đây lấy nước để nấu rượu tiến vua, khi nạo vét lòng hang các nhà khảo cổ đã phát hiện rất nhiều bình gốm, hũ, vại và các dụng cụ để nấu rượu. Vòng qua hang núi Cơm, sang hang Vồng, ở đây có cây si cổ thụ rễ chùm cả miệng hang. Từ đây sang hang Láng, hang Ao Trai, giữa hang Ao Trai, lòng hang phình ra khoảng 30m. Hang động Tràng An có những nét đặc trưng nổi bật của một khu di sản với bốn loại hang động chính: Hang ngầm cổ, hang nền Karst cổ, hang mái đá và hang hàm ếch.

Tràng An có thể tạo thành nhiều hành trình xuyên thủy khép kín mà du khách du lịch Ninh Bình không phải quay ngược lại. Quần thể hang động này được ví như một trận đồ bát quái. Các dãy núi, hồ nước và hang động tạo thành một thế trận liên hoàn. Mỗi hồ là một bức tranh thủy mặc khác nhau về thế núi, dáng núi và hồ nước. Mây trời, non xanh, nước biếc hòa quyện với nhau, thoắt ẩn, thoắt hiện. Ðiều diệu kỳ ở Tràng An là các hồ được nối liền với nhau bởi các gạch nối là các động xuyên thủy có độ dài, ngắn khác nhau. Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi kia. Núi giăng thành luỹ bao bọc quanh hồ nước và ở giữa nổi lên khu đất với rừng cây mọc thành đảo. Xa xa trên triền núi, dưới tán cây rừng lúp xúp là những đàn dê núi leo trèo trên các tảng đá chênh vênh.

Tràng An gắn liền với những giá trị lịch sử, văn hóa của vùng đất cố đô Hoa Lư. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất giang sơn, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Kinh đô Hoa Lư gồm 4 thành: Đông - Tây - Nam - Bắc; trong đó có Thành Nam rộng lớn, là vùng núi cao hiểm trở để phòng thủ, che chở kinh thành hiện được gọi là Tràng An. Với đặc thù địa hình như vậy, kinh đô Hoa Lư được ví như kinh đô đá với đặc điểm: núi là thành, sông là đường, hang động là cung điện.


Một phần của hang động Tràng An đã được Ninh Bình đưa vào khai thác phục vụ du lịch. Hiện nay, du khách đến Tràng An thường tham gia 2 tuyến du lịch, tuyến tham quan bằng thuyền nan kéo dài 3 giờ và một tuyến du lịch leo núi.

+ Tuyến chèo thuyền: Hang động Tràng An có nét đặc trưng riêng biệt là hình thức du thuyền trên các thung nước tạo bởi nhiều vách núi đá được nối thông nhau bằng những hang nước mà không phải quay ngược lại. mất khoảng 3 đến 4 tiếng để chúng ta đi thuyền qua các hang động này.

+ Tuyến leo núi: Tuyến du lịch đường bộ có chiều dài 1,6 km, du khách sẽ đi bộ qua 3 quèn vào đền Trần. Tuyến này bắt đầu từ bến Cây Bàng, du khách sẽ đi bộ, leo núi qua ba đèo liền nhau. Đèo thứ nhất là đèo Cậy có độ cao so với mặt nước khoảng 60m. Đèo thứ hai là đèo Vài. Và đèo thứ ba là đèo đền Trần. Hiện nay, đường leo núi này đã được xây các bậc đá rộng. Trên đường đến đền Trần đã dựng 7 chiếc lầu bằng gỗ lim hình bát giác làm nơi nghỉ chân cho du khách khi leo núi.


Ðiều diệu kỳ ở Tràng An là các hồ được nối liền với nhau bởi các gạch nối là các động xuyên thủy có độ dài, ngắn khác nhau. Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi kia. Núi giăng thành luỹ bao bọc quanh hồ nước và ở giữa nổi lên khu đất với rừng cây mọc thành đảo. Xa xa trên triền núi, dưới tán cây rừng lúp xúp là những đàn dê núi leo trèo trên các tảng đá chênh vênh.

Tới Tràng An, du khách tour ghép Bái Đính Tràng An sẽ được ngồi trên con thuyền lướt nhẹ qua các dãy núi, ngắm nhìn làn nước trong vắt tới đấy, khám phá những hang động kỳ bí, được nghe người lái thuyền thuyết minh về ý nghĩa tên gọi của hang hay những truyền thuyết gắn liền với nó.

Nhiều người ví Tràng An là "Hạ Long trên cạn", nhưng không, Tràng An là Tràng An, nơi có làn nước trong xanh biếc, nơi những hang động muôn hình muôn vẻ, nơi cảnh đẹp gắn liền với lịch sử kinh đô nước Đại Cồ Việt xưa kia, nơi không có những du thuyền buồm sang trọng như Hạ Long, chỉ có chiếc xuồng lá mộc mạc cùng người lái thuyền chất chất đưa bạn rong ruổi hành trình thưởng ngoạn sơn thủy.

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2018

Hương vị đầy say mê của cháo ấu tẩu Hà Giang

Nhờ chế biến, gia giảm đúng cách mà món cháo này lại trở nên rất bổ dưỡng và được nhiều người tìm ăn mỗi khi có dịp lên vùng cao chơi.

Khi xem những thước phim sống động về các vùng núi phía Bắc nước ta thì du khách du lịch Hà Giang có thể thấy rõ nét hùng vĩ, hoang sơ của núi rừng cùng vẻ đẹp thơ mộng trong những mùa hoa trổ hay mùa lúa chín. Ngoài sở hữu cảnh sắc ngút ngàn, ẩm thực ở vùng cao cũng luôn là một đề tài khiến người ta say mê mỗi khi có dịp đặt chân tới.


Không chỉ đặc biệt ở phần nguyên liệu hay cách chế biến mà ẩm thực vùng cao còn độc đáo ở những cái tên như pa pỉnh tộp, thắng cố, nậm pịa... Trong số đó, có một món ăn đã thách thức rất nhiều du khách khi tới đây, đó chính là cháo ấu tẩu.

Sở dĩ có tên là cháo ấu tẩu vì món cháo này được làm từ nguyên liệu chính là củ ấu tẩu. Loại củ này thường xuất hiện ở các tỉnh phía Bắc nước ta. Bề ngoài giống củ ấu miền xuôi nhưng thực chất lại là hai loại hoàn toàn khác biệt. Củ ấu tẩu mọc trên đá, vốn được xếp vào danh sách thuốc cực độc. Lượng độc từ củ ấu tẩu thậm chí có thể làm cho người ta bị tê cứng chân tay, đông máu mà chết nếu ăn trực tiếp cả củ.

Thế nhưng, khi được bào chế cẩn thận thì nó lại trở thành vị thuốc có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Bởi từ xa xưa, người Mông đã dùng củ ấu tẩu ngâm rượu xoa bóp để trị đau nhức hay cảm gió. Sau đó, người ta nấu cháo để làm món giải cảm, rồi cứ dần dần lại được chế biến ăn kèm thêm với thịt băm, chân giò, các loại rau thơm, hạt tiêu, hay măng chua...


Để khử độc tố của ấu tẩu thì người ta phải chế biến qua rất nhiều công đoạn như ngâm củ qua đêm và nấu trên nồi thật lâu. Chỉ cần làm ẩu một công đoạn, nấu chưa đủ thời gian chuẩn cũng có thể khiến người ăn bị trúng độc, thậm chí là tử vong ngay sau khi ăn cháo.

Đặc trưng ở vùng cao là có rất nhiều núi non nên càng về khuya tới sáng sớm, thời tiết rất lạnh lẽo. Do vậy, cháo ấu tẩu trở thành món ăn ấm nóng, cực hợp vị để nhâm nhi trên vùng cao. Khi thưởng thức cháo, du khách tour Hà Giang 3 ngày 2 đêm sẽ thấy có vị đắng nhẹ nhưng ăn quen dần lại thấy có vị bùi, ngọt hậu rất lôi cuốn.

Với những người phải đi một chặng đường xa lên vùng cao mà được ăn ngay bát cháo ấu tẩu thì tự khắc sẽ thấy cơ thể sảng khoái, khỏe khoắn, đầu óc cũng trở nên minh mẫn, phấn khởi hơn. Cháo ấu tẩu có cả 4 mùa nhưng điểm thú vị là thường chỉ bán vào buổi tối. Hiện nay, cháo ấu tẩu cũng đã có mặt tại rất nhiều quán ăn đặc sản vùng cao ở cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Đây không chỉ là món cháo ăn lót dạ mà còn trở thành một một phương thuốc rất tốt cho sức khỏe.

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Bức tranh thiên nhiên trữ tình độc đáo của bản Cát Cát

Với những nét độc đáo của một bản làng vùng cao Tây Bắc, Cát Cát từ lâu đã trở thành điểm du lịch ấn tượng, không thể bỏ qua của du khách trong và ngoài nước khi du lịch Sapa.

Từ trung tâm thị trấn Sapa, theo con đường hướng về phía núi Fanxipan khoảng gần 3km, du khách sẽ đến bản Cát Cát.

Bản Cát Cát thuộc địa phận xã San Sả Hồ, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai là nơi tập trung đông đúc đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Đây là một trong những cái tên đứng đầu danh sách địa điểm đáng đi nhất khi du lịch Sapa.


Nằm ngay dưới chân núi Hoàng Liên Sơn, bản Cát Cát ẩn mình, e ấp dưới sự bao bọc của mẹ thiên nhiên. Cả một màu xanh của đồng ruộng, núi đồi bao trùm lên khắp bản, xen lẫn vào đó là những ngôi nhà nhỏ bé của những người dân sinh sống. Tất cả hòa quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh thiên nhiên tràn đầy màu sắc mà cũng không kém phần thơ mộng.

Gần 80 hộ dân trong bản hầu hết nằm dọc theo con đường bậc thang lát đá giữa bản, một số nằm rải rác trên các sườn núi. Ði khoảng mấy trăm mét bậc thang là đến trung tâm Cát Cát, nơi hội tụ của ba dòng suối ngày đêm rì rào là suối Tiên Sa, suối Vàng và suối Bạc cùng ngọn thác Cát Cát (còn gọi là thác Tiên Sa) ầm ầm, tung bọt trắng xoá. Bên cạnh thác có hai chiếc cầu treo là cầu Si và cầu A Lứ thu hút rất đông du khách ngắm cảnh và chụp hình lưu niệm.

Ngoài trồng lúa, người Mông ở Cát Cát còn phát triển các nghề thủ công truyền thống như trồng lanh, dệt vải, đan lát dụng cụ sinh hoạt và rèn nông cụ. Ngoài ra, ở bản Cát Cát còn có nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc, đồng từ lâu đời và tạo ra những sản phẩm tinh xảo như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn… Để có thể tìm hiểu về các nghề này, du khách du lịch Hà Nội Sapa 2 ngày 1 đêm có thể tới tham quan làng nghề thủ công truyền thống với các khu tranh thêu tay, khu giới thiệu nghề… vô cùng độc đáo.


Bản Cát Cát không chỉ hấp dẫn du khách bởi phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, trữ tình mà còn bởi những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, đa dạng của đồng bào dân tộc Mông.

Đến với Cát Cát, du khách còn có cơ hội trải nghiệm, khám phá những phong tục tập quán, nét đẹp trong tín ngưỡng tôn giáo của người dân, cùng hòa mình vào những điệu múa dịu dàng của cô gái Mông xinh đẹp, hay điệu khèn, tiếng đàn môi xao động lòng người của những chàng trai Mông và thưởng thức những món đặc sản như: rượu ngô, thắng cố, bánh ngô,…

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018

Về miền Tây thăm lại Cù Lao Ông Hổ

Cù lao Ông Hổ, nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP.Long Xuyên (An Giang), quê hương của Bác Tôn. Trên cù lao có khu lưu niệm và đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong khuôn viên hoa trái xum xuê. Trước đây, nơi này là ngôi nhà gỗ, được xây dựng vào năm 1887, do thân sinh của Bác Tôn là cụ Tôn Văn Đề xây dựng, với lối kiến trúc hình chữ Quốc, sàn lót ván, mái lợp ngói ống, ngang 12 m, dài 13 m, rộng hơn 150 m2.


Năm 1984, Bộ Văn hóa đã ra quyết định công nhận đây là Di tích Lịch sử Quốc gia. Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 110 của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nhân dân tỉnh An Giang đã tiến hành làm lễ khánh thành khu lưu niệm và đền thờ Bác với nhiều công trình mới được xây dựng trên khuôn viên 6,7 ha. Trong đó, ngôi nhà thời niên thiếu và đền thờ tưởng niệm Bác Tôn, được xây dựng trong khuôn viên 1.600 m2 với kiến trúc cổ lầu tam cấp đặc sắc, nơi chính điện là tượng Bác Tôn bằng đồng bán thân. Đối diện với đền thờ là nhà trưng bày về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Tôn - nơi đây các hình ảnh, hiện vật, các tư liệu và phim hình sống động giúp chúng ta hiểu thêm về Bác, một tấm gương sáng của dân tộc ta về chí khí kiên cường, đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị. Trong khuôn viên khu lưu niệm còn lưu giữ nguyên trạng những hình ảnh, hiện vật gắn với thuở thiếu thời của Bác - đó là căn nhà sàn lót ván 3 gian, 2 chái lợp bằng ngói âm dương cùng với những đồ vật, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình; lũy tre xanh đầu ngõ soi bóng xuống sông Hậu theo thế “Long chầu Nguyệt”. Đã mấy trăm năm nhưng lũy tre vẫn xanh tốt; những ao cá trong vườn vẫn rực màu hoa sen, hoa súng; những vườn cây quanh năm hoa trái trĩu cành...

Khu lưu niệm và đền thờ Bác Tôn tọa lạc ở vị trí cao ráo, vượt đỉnh lũ năm 2000 hơn 0,4 m, gió sông Hậu mát rượi suốt ngày đêm. Từ năm 1998 đến nay, trung bình mỗi năm có hơn 200.000 lượt khách tour du lịch miền Tây 4 ngày 3 đêm đến thăm viếng nơi đây. Đây cũng là địa điểm các cơ quan, đoàn thể tỉnh An Giang đến làm lễ dâng hương, báo công, kết nạp đảng viên, đoàn viên... Khu lưu niệm đang trở thành nơi khách thập phương nô nức tới thăm viếng. Nhà bảo tàng với nhiều hiện vật quý từ chiếc xe đạp Bác Tôn sử dụng như một hình thức rèn luyện thân thể đến mô hình máy bay từng chở Bác về thăm quê nhà.


Cù lao Ông Hổ là vùng đất lấy chữ “Đức” làm gốc, con người sống nhân hậu, nghĩa tình, thủy chung son sắt. Thuở Bác Tôn chào đời, cụ Tôn Văn Đề - thân sinh Bác Tôn và các bậc Nho học nhận thấy cậu con trai mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, nhân tướng toát lên vẻ thanh cao, giàu chí khí nên đã dùng chữ đệm là “Đức” trước tên là chữ “Thắng” và dự đoán: Cù lao này có long mạch, nhất định sau này cậu bé sẽ là bậc gánh trọng trách của xã tắc, non sông.

Với những truyền thuyết gắn với hiện thực về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của Bác Tôn nên cù lao Ông Hổ từ lâu đã thu hút sự quan tâm của du khách du lịch miền Tây Nam Bộ trong và ngoài nước mỗi khi đến An Giang. Tình cảm đó đã được đúc kết trong ca dao Nam bộ:

Dù ai xuôi ngược bốn bề

Chưa đến Ông Hổ chưa về An Giang.

Ngày nay, cù lao Ông Hổ đã trở thành một địa chỉ du lịch văn hóa, giáo dục truyền thống về nguồn. Cứ đến dịp lễ, Tết, đặc biệt là vào những ngày tháng Tám mùa thu, du khách khắp nơi lại nô nức xuống phà Ô Môi qua sông Hậu để đến với cù lao Ông Hổ.

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2018

Cảm nhận trọn vẹn sức hấp dẫn lạ kì từ Don sông Trà

Có những món ăn chỉ cần nghe tên cũng có thể hình dung ra hương vị, nhưng cũng có món dù nhắc đi nhắc lại bao nhiêu lần cũng chẳng tượng tượng nổi hình thù, nguồn gốc của chúng ra sao. Don- đặc sản Quảng Ngãi là một trong những món ăn như vậy.

Don là món ăn không chỉ có cái tên lạ mà còn mang cả hơi thở và cuộc sống của con người Quảng Ngãi. Tùy vào sở thích ăn uống cũng như khẩu vị mà mỗi thực khách sẽ có cảm nhận riêng về don, nhưng chắc chắn món ăn sẽ mang đến sự trải nghiệm mới lạ về vị giác. Mỗi khi có dịp ghé thăm miền đất Quảng Ngãi, du khách du lịch hè 2018 đừng quên thưởng thức món don đặc biệt này.


Don thuộc họ nhuyễn thể hai mảnh, vỏ nửa đen nhạt nửa vàng lợt, hình quả trám, to bằng móng tay út người lớn, dài hơn một phân. Vỏ don thường mỏng hơn các loài ốc khác. Ruột don màu vàng và có những tua hồng bao quanh. Don nằm sâu dưới cát (khoảng 5 phân), mỗi năm chỉ nổi lên một lần với mực nước ngập khoảng một mét.

Don chỉ có ở hai con sông lớn của Quảng Ngãi là sông Trà và sông Vệ. Loài don thường sống rải rác khắp nơi, lòng sông, bờ sông... và đông đúc nhất là ở khu vực gần các cửa sông. Điểm tập trung sinh sống ưa thích của don là môi trường đất cát. Thường vào mùa khô hạn khoảng tháng 4 đến tháng 5, người dân xung quanh hai con sông mới vào mùa cào don. Nhưng có khi vào tháng 7 don cũng xuất hiện nhiều. Don sống vùi trong cát nên việc cào don rất cực khổ với người dân. Có những hôm gặp nước lớn, người cào don phải ngâm mình dưới nước hàng giờ đồng hồ mà cũng không bắt được nhiều.


Nếu có may mắn được đến Quảng Ngãi vào đúng mùa don, du khách hãy tranh thủ thưởng thức món ăn đặc biệt này. Vào những thời điểm khác trong năm, người Quảng Ngãi thường thay don bằng hến. Dù 2 loài này có cùng họ với nhau, nhưng nếu trong bát không phải con don có màu vàng với những tua hồng bào quanh thì món ăn dù có thêm bao nhiêu gia vị cũng chẳng thể nào đúng kiểu.

Món don đặc sản chỉ gồm một tô nước có màu đùng đục, trong có chứa nhiều con don nhỏ xíu, ít hành tây và một cái bánh tráng gạo nướng. Đơn giản vậy nhưng món ăn đã đi sâu vào tâm trí của mỗi người con xứ Quảng khi xa quê hương.

Sau khi cào don về, người ta ngâm, rửa sạch sẽ rồi cho don vào nồi nước sôi, khuấy mạnh và đều tay. Khi don há miệng cũng là lúc phần nước luộc có được tất cả những gì tinh túy nhất. Nước luộc don được cho riêng ra nồi khác, nêm nếm vừa ăn tùy theo khẩu vị của mỗi người.

Riêng con don đãi lấy ruột. Sau đó bẻ bánh tráng sống cho vào bát, đổ nước don và cho con don vào, rắc thêm hành tây, hành lá, ớt xiêm và rải rác vài hột tiêu xay nhuyễn. Món ăn này mà có thêm sự kết hợp của tép tỏi Lý Sơn và mùi cay thơm của ớt hiểm thì sẽ vô cùng hoàn hảo.


Đợi đến khi bánh tráng ngậm nước, hơi mềm, thực khách du lịch Quảng Nam Đà Nẵng hãy thong thả thưởng thức vị thơm, ngọt của nước dùng, bánh tráng, vị cay của ớt, tiêu… Tất cả hòa quyện tạo nên sức hấp dẫn lạ kì, khiến người ăn cảm nhận trọn vẹn vị ngon đến bồi hồi.

Để thay đổi khẩu vị, bạn có thể làm món don xào hoặc cháo don đơn giản mà cực kỳ ngon. Ở những nơi khác đôi khi cũng có món don. Nhưng khi ăn thử, người tinh ý vẫn nhận ra don có vị tanh cho dù đã ướp rất nhiều gia vị. Nếu có dịp ghé Quảng Ngãi, bạn có thể thưởng thức món don này tại khu đối diện Núi Bút, hoặc dọc đường Quang Trung hay Trần Hưng Đạo.

Có thể nói món don như đặc tính của người đất Quảng, không cầu kỳ, không đắt đỏ, cái ngon tự nhiên đến từ vị ngọt thanh lạ của con don trên mảnh đất quê hương đã tạo nên một đặc sản, một niềm tự hào của ẩm thực Quảng Ngãi.. Mộc mạc, dân dã song canh don gần như chứa đựng tất cả con người, tình cảm và văn hóa của vùng đất núi Ấn sông Trà này.

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2018

Những lưu ý cho chuyến du lịch Sầm Sơn hè này

Du khách đến Sầm Sơn cần lưu ý về đường đi, chỗ ở hay giá cả để có một chuyến đi trọn vẹn.

Điều cần biết cho chuyến du lịch Sầm Sơn

Với chiều dài gần 6 km từ cửa Lạch Hới tới chân núi Trường Lệ, biển Sầm Sơn, Thanh Hoá nổi tiếng với bãi tắm đẹp, sóng mạnh, bờ cát dài, phẳng mịn. Cứ vào mùa du lịch từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, du lịch biển Sầm Sơn chào đón hàng triệu lượt khách từ khắp nơi tới tham quan và nghỉ dưỡng.

Đi lại


Quãng đường từ Hà Nội đến Sầm Sơn dài 170 km, thích hợp cho chuyến du lịch cuối tuần. Có hai tuyến cho bạn lựa chọn: Tuyến đường cao tốc quốc lộ 1 Hà Nội – Ninh Bình đi Thanh Hóa và tuyến đường quốc lộ 10 Pháp Vân – Cầu Giẽ – Ninh Bình -Thanh Hóa. Sau đó bạn men theo quốc lộ 47 sẽ đến thành phố Sầm Sơn.

Đi cùng gia đình, bạn nên lựa chọn đi tàu hoặc ôtô khách. Từ bến xe Giáp Bát về TP Thanh Hóa giá vé xe khách từ 80.000 đồng một người. Từ TP Thanh Hóa, bạn đi xe buýt 01 ở cổng ga hoặc Bưu điện tỉnh, giá từ khoảng 15.000 đồng một lượt để đến Sầm Sơn. Nếu không muốn chuyển xe nhiều lần, bạn nên chọn một số xe ở bến xe Giáp Bát đi tuyến Hà Nội – Sầm Sơn với giá 100.000 đồng.

Ở Sầm Sơn có nhiều loại phương tiện phục vụ du khách. Ngoài taxi, xe ôm, bạn có thể thuê xe đạp đôi.

Lưu trú

Sầm Sơn có khoảng 460 cơ sở lưu trú với khoảng 18.000 phòng, giá mùa cao điểm từ 250.000 đồng trở lên. Bạn có thể lựa chọn nghỉ tại những khách sạn ngay trên đường Hồ Xuân Hương sát mép biển để có hướng nhìn tốt.

Giá cả dịch vụ tại bãi A, B thường cao hơn bãi C, D nên với ngân sách vừa phải, bạn có thể tìm đến các nhà nghỉ cách bãi biển 500 – 700 m dưới bãi C, D để tìm phòng giá tốt mà chất lượng phục vụ vẫn được đảm bảo.

Những lưu ý khi tắm biển


Biển Sầm Sơn không êm dịu, bình lặng như các biển khác. Sóng ở đây mạnh, ập lên đến bờ liên tục. Vì vậy, trước khi xuống biển du khách du lịch biển hè 2018 nên tập một vài động tác thể dục nhẹ nhàng để tránh bị chuột rút.

Vào những ngày biển động, Sầm Sơn thường hình thành một số dòng chảy xa bờ rất nguy hiểm. Trước khi xuống tắm, du khách nên dành một vài phút để quan sát, tránh xa khu vực nguy hiểm.

Bãi tắm Sầm Sơn luôn có đội cứu hộ thường trực. Nếu không may gặp sự cố đuối nước, say sóng, chuột rút… tốt nhất bạn nên ngậm miệng, nín thở, tay, chân làm mái chèo, quạt đẩy đầu nhô khỏi mặt nước và ra hiệu để chờ người tới cứu. Thời gian buổi trưa và từ 5h chiều trở đi là thời gian quy định khách du lịch không được tắm biển, đội cứu hộ không làm việc nên để đảm bảo an toàn bạn cần tuân thủ.

Tham quan, mua sắm

Du lịch Sầm Sơn, du khách có thể tham quan một số địa điểm gần như hòn Trống Mái, chùa Cô Tiên, đền Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Tô Hiến Thành, núi Trường Lệ, chợ Sầm Sơn. Xa hơn một chút, trên đường về, du khách có thể ghé thăm các danh thắng của Thanh Hóa như thành nhà Hồ, suối cá thần, đền thờ Bà Triệu, động Từ Thức, Vườn quốc gia Bến En.

Bạn có thể mặc cả giá để mua những viên đá biển đủ màu, chiếc móc chìa khóa nhỏ xinh làm từ vỏ ốc, hay chiếc chuông gió vỏ sò được bày bán trên bờ biển để làm kỷ niệm sau chuyến du lịch. Ngoài ra, bạn nên ghé qua chợ Sầm Sơn, Điện Biên để mua hải sản tươi với giá tốt.

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018

Hương vị hấp dẫn đến lạ lùng của nem nướng Đà Lạt

Thông thường, nghe đến nem, người ta nghĩ đến thịt chua, nhưng, với nem Đà Lạt thì không!

Một trong số những món ăn khi đến Đà Lạt nhất định phải thử, và nếu đã thử thì nhất định sẽ tìm đến lần thứ hai, đó là nem nướng. Thông thường, nghe đến nem, du khách du lịch hè 2018 nghĩ đến thịt chua, nhưng, với nem Đà Lạt thì không!


Nem nướng Đà Lạt được làm từ loại thịt heo chọn lọc kỹ, xay nhuyễn, nêm nếm gia vị cùng hành tỏi, buộc người làm phải đi qua một công đoạn là quết bằng tay để tạo độ dai cho món ăn. Khi đã đạt được đến độ dai như mong muốn, thực phẩm này được ve tròn dài trên đũa gỗ tiện cho việc nướng và nhất định sẽ phải nướng ở bếp than. Mùi thịt ướp, thơm nồng gia vị, quyện vào cùng mùi khói than nóng tạo nên một hương vị hấp dẫn đến lạ lùng.

Kèm theo với món nem nướng Đà Lạt, đầu tiên là phải kể đến bánh tráng chiên giòn. Đơn giản đây chỉ là loại bánh tráng dùng để cuốn, được cuộn lại thành những que dài, chiên vàng, khiến món ăn trở thành “giòn rụm”.

Đà Lạt nổi tiếng với rau xanh, thế nên, ở món ăn này cũng không thể bỏ qua thứ đặc sản ấy. Nem nướng Đà Lạt dùng cùng với rau salad, rau mùi, hẹ. Vốn món nem đã thơm, nay cuộn bánh tráng cùng salad giòn và thơm, mùi vị của sự kết hợp này thật không thể dùng từ ngữ để diễn tả. Và, rau xanh Đà Lạt chính là phần giúp cho món ăn đỡ phần béo ngậy khi kèm cùng bánh tráng chiên giòn vừa nhắc ở trên.

Có hai thứ đi cùng món nem đặc biệt này không thể thiếu, cũng là những thứ tạo nên sự khác biệt cho nem nướng Đà Lạt với những nơi khác. Đấy là củ quả ngâm chua và nước chấm.


Củ quả ngâm chua gồm cà rốt, củ cải trắng, hành tím và dưa leo ngâm dầu giấm, tạo độ chua ngọt nhất định cho món ăn, khiến thực khách không cảm thấy nhàm chán hay ớn ngấy. Thông thường, ở mỗi quán nem nướng Đà Lạt đều có tỏi sống đi cùng với món ăn này. Vị tỏi cay nồng, kết hợp với những củ quả ngâm chua sẽ khiến món ăn “lành” hơn, phù hợp được với cả những cái bụng vốn khó chịu với món lạ.

Thứ đặc biệt nhất ở món ăn này là nước chấm. Đậu phộng, hành tỏi, một ít thịt thêm gia vị, xay nhuyễn và nấu sôi. Sánh sệt, ngọt mềm… thưởng cùng cuộn nem, cùng bánh tráng chiên, cùng rau, cùng củ quả ngâm chua… nem nướng Đà Lạt đạt đến được một giới hạn khó chê và càng khó quên.

Phải nói thật, từ ngữ không đủ để diễn tả hương vị của món nem nướng độc đáo này đâu! Thế nên, bạn cứ ghé đến, thử một lần đi, du khách tour Nha Trang Đà Lạt 5 ngày 4 đêm sẽ biết tại sao nhất định sẽ có lần thứ hai.